Thông tin - Thông báo









Liên Kết Web

Chi tiết tin

Báo cáo tình hình thực hiện phát triển kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2018

Người đăng: Nguyễn Văn Đàn Ngày đăng: 8:41 | 10/10 Lượt xem: 52

Thực hiện Nghị quyết số 34/NQ-HĐND ngày 07/12/2017 của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, Nghị Quyết số 05/NQ-HĐND ngày 19/7/2018 của HĐND tỉnh về bổ sung nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh 6 tháng cuối năm 2018; các ngành, địa phương đã tập trung triển khai những nhiệm vụ và chỉ tiêu kế hoạch đề ra trong năm 2018. Sau 9 tháng thực hiện, kết quả đạt được trên các lĩnh vực chủ yếu như sau:

1. Về kinh tế

1.1 Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9 tăng 28,4% so với tháng cùng kỳ; tính chung 9 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng hơn 10% so cùng kỳ và tăng ở hầu hết các sản phẩm chủ lực của tỉnh như: Sản xuất đồ uống; sản xuất hàng may sẵn; sản phẩm điện tử, máy vi tính; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; chế biến gỗ và sản phẩm từ tre, nứa. Riêng sản xuất xe có động cơ, do điều chỉnh quy mô sản xuất của từng dòng xe phù hợp với nhu cầu thị trường nên chỉ số sản xuất 9 tháng giảm 5% so cùng kỳ, tuy nhiên chỉ số sản xuất ngành ô tô đã cải thiện và tăng so với tháng trước[1].

 Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 9 tháng tăng gấp 3,3 lần so với cùng kỳ. Trong đó một số nhóm ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao như: Chế biến và bảo quản thủy sản; sản xuất hàng may sẵn; cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ; sản xuất các sản phẩm từ cao su; sản xuất cấu kiện kim loại; sản xuất xe có động cơ[2]. Chỉ số tồn kho tại thời điểm 30/9/2018 giảm 4,5% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số sử dụng lao động đến cuối tháng 9 tăng hơn 2,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tăng cao ở ngành sản xuất đồ uống, tăng gần gấp 3 lần; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng gần 23%; sản xuất trang phục tăng 11%.

Như vậy, qua 9 tháng đầu năm, tình hình sản xuất công nghiệp đạt được kết quả khả quan, mặc dù ngành công nghiệp khai khoáng vẫn chưa phục hồi đà tăng trưởng nhưng chỉ số sản xuất chung toàn ngành tăng so với cùng kỳ, khả năng tiêu thụ sản phẩm công nghiệp cũng tăng cao, lượng hàng tồn kho giảm đáng kể. Dự báo trong quý IV/2018, sản xuất công nghiệp tiếp tục phát triển tốt do nhu cầu mua sắm tăng cao vào dịp cuối năm và một số nhà máy, dự án sản xuất công nghiệp đi vào hoạt động[3].

1.2. Thương mại, dịch vụ

Qua 9 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn tỉnh hơn 33.600 tỷ đồng, tăng hơn 9,8% so với cùng kỳ. Trong đó, chủ yếu là ngành hàng thương nghiệp chiếm trên 68% tổng mức và tăng 10,6%, hoạt động lưu trú và ăn uống chiếm 24,2%, tăng 8,7%.

Hoạt động du lịch nhờ nâng cao chất lượng dịch vụ kết hợp với đa dạng hóa sản phẩm nên đã thu hút được lượng lớn khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế. Tổng lượt khách tham quan, lưu trú trên địa bàn tỉnh 9 tháng hơn 5.380 nghìn lượt, tăng gần 23% so với cùng kỳ, trong đó khách quốc tế 3.290 nghìn lượt. Doanh thu du lịch hơn 4.200 tỷ đồng, tăng 26% so với cùng kỳ năm 2017. Thu nhập xã hội từ du lịch ước đạt 9.870 tỷ đồng.

Mạng lưới và chất lượng cơ sở lưu trú ngày càng được nâng cao. Đến nay, toàn tỉnh có hơn 920 cơ sở lưu trú với khoảng 13.500 phòng đón khách, tăng 1.500 phòng so với cùng kỳ năm 2017[4]. Khách sạn đạt tiêu chuẩn đón khách quốc tế có 125/177 khách sạn đạt hạng sao với gần 7.500 phòng, trong đó 7 khách sạn 5 sao, 21 khách sạn 4 sao, 20 khách sạn 3 sao, 36 khách sạn 2 sao và 41 khách sạn 1 sao.  

Chỉ số giá tiêu dùng trên địa bàn tỉnh tháng 9 tăng 0,23% so với tháng trước; bình quân 9 tháng đầu năm, chỉ số giá tăng hơn 4% so với cùng kỳ.

1.3. Sản xuất nông nghiệp

Tính đến giữa tháng 9, cả tỉnh đã cơ bản thu hoạch xong diện tích lúa vụ Hè Thu[5], sản lượng ước tính hơn 214 nghìn tấn. Diện tích gieo trồng và năng suất một số cây hàng năm khác tương đương cùng vụ năm trước. Sản lượng các loại cây lâu năm đạt khá do diện tích đến kỳ cho sản phẩm như: Cao su, sản lượng 9 tháng hơn 3,2 nghìn tấn, tăng 6,7% so với cùng kỳ.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm nhìn chung ổn định, ít xảy ra dịch bệnh; tổng đàn gia súc những tháng đầu năm có giảm so cùng kỳ, tuy nhiên những tháng gần đây đã phục hồi trở lại, đặc biệt là đàn lợn do giá bán tăng[6]. Chăn nuôi quy mô trang trại, gia trại phát triển tốt. Chăn nuôi gia cầm tăng trưởng khá, dịch bệnh được kiểm soát, giá cả ổn định, ước tổng đàn gia cầm hiện nay đạt trên 6,5 triệu con, tăng 2,4% so với cùng kỳ.                      

Tính chung 9 tháng, diện tích trồng rừng mới tập trung ước đạt 8.150 ha, tăng 5,4% so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác ước khoảng 822 nghìn m3, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Thường xuyên theo dõi cập nhật, cảnh báo sớm nguy cơ cháy rừng nên hạn chế được các vụ cháy rừng; tuy nhiên tình trạng chặt phá rừng vẫn còn xảy ra, 9 tháng đầu năm diện tích rừng bị chặt phá hơn 16 ha.

Tổng sản lượng thủy sản 9 tháng hơn 96.200 tấn, tăng 4,6% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng khai thác gần 75.700 tấn, tăng 5%, bằng 93% kế hoạch. Diện tích đã thả nuôi khoảng 8.400 ha, tăng 46 ha so với cùng kỳ, sản lượng thu hoạch ước đạt 20.500 tấn, tăng 600 tấn.

Kết quả sản xuất nông, lâm, thủy sản 9 tháng đầu năm tương đối ổn định, duy trì tốc độ phát triển tương đương với cùng kỳ năm trước. Dự kiến giá trị sản xuất toàn ngành năm 2018 hơn 13.540 tỷ đồng, tăng 4% so với cùng kỳ năm 2017.

Chương trình nông thôn mới đạt kết quả nhất định. Đến cuối tháng 8 toàn tỉnh có 72 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 35,3% tổng số xã và không còn xã dưới 5 tiêu chí. Bình quân số tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới (NTM) của 204 xã là 13,21 tiêu chí/xã, tăng 0,1 tiêu chí/xã so với năm 2017. Dự kiến cuối năm 2018, phấn đấu có thêm 15 xã đạt chuẩn NTM, nâng tổng số xã đạt chuẩn NTM đến cuối năm 2018 là 87 xã, đạt tỷ lệ 42,6%. Số tiêu chí đạt chuẩn bình quân chung là 14 tiêu chí/xã.

3. Tài chính, tiền tệ và thu chi ngân sách

Nhìn chung, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay trong tháng tương đối ổn định, không biến động nhiều so với tháng trước. Nguồn vốn huy động tăng trưởng ổn định, đến 30/9/2018 tổng vốn huy động của các ngân hàng trên địa bàn tỉnh hơn 48.970 tỷ đồng, tăng gần 12% so với đầu năm và tăng 17% so với cùng kỳ.

Tín dụng tăng trưởng tốt, tổng dư nợ cho vay nền kinh tế gần 58.430 tỷ đồng, tăng gần 14% so với đầu năm[7]. Với đà tăng trưởng như hiện nay, dự kiến đến cuối năm tốc độ tăng trưởng tín dụng của tỉnh sẽ cao hơn mục tiêu tăng trưởng tín dụng đặt ra cho năm 2018[8], do nhu cầu vay vốn để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng thường tăng cao ở những tháng cuối năm.

Nợ xấu hơn 564 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ nhưng vẫn được kiểm soát ở mức dưới 1% tổng dư nợ. Trong đó, nợ xấu cho vay đóng mới tàu theo Nghị định 67 là 183,7 tỷ đồng, chiếm 26,7% nợ xấu toàn địa bàn.

Ước đến ngày 30/9/2018, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn khoảng 17.110 tỷ đồng, bằng 87% dự toán, tăng 25,5% so cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa 13.760 tỷ đồng, gần bằng 89% dự toán, tăng 34,7% so cùng kỳ năm trước. Đa số các lĩnh vực thu đều vượt tiến độ và tăng so với cùng kỳ, trong đó thu ở khu vực ngoài quốc doanh gần 9.490 tỷ đồng, hơn 88% dự toán và tăng gần 43% so cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài 1.106 tỷ đồng, bằng 84,3% dự toán, tăng gấp 2,3 lần so cùng kỳ. Thu xuất nhập khẩu hơn 3.350 tỷ đồng, gần bằng 80% dự toán.

Tổng chi ngân sách địa phương 11.845 tỷ đồng, bằng 51,6% dự toán, tăng 7,7% so với cùng kỳ; trong đó, chi thường xuyên 6.530 tỷ đồng, bằng 56,6% dự toán, chi đầu tư phát triển 4.500 tỷ đồng, bằng 59,5%.

4. Về đầu tư và xây dựng

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng hơn 23.870 tỷ đồng, tăng 41,5% so cùng kỳ. Trong đó, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn nhà nước quản lý ước thực hiện 6.483 tỷ đồng, giảm 20% so cùng kỳ; vốn huy động khu vực ngoài nhà nước hơn 13.530 tỷ đồng, tăng gấp 2 lần so cùng kỳ; vốn FDI khoảng 3.855 tỷ đồng, tăng 88% so cùng kỳ.

Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện 9 tháng trên 3.727 tỷ đồng, tăng 22,5% so cùng kỳ. Trong đó, khối lượng thực hiện chủ yếu là các công trình chuyển tiếp: Đường phía Bắc cầu Cửa Đại, đường Điện Biên Phủ; dự án nâng cấp, mở rộng các tuyến đường ĐT; các tuyến nối từ đường ven biển đến đường Quốc lộ 1A và đến đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi; hạ tầng khu công nghiệp Tam Thăng; đường trục chính nối cảng Tam Hiệp đến đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi; bệnh viện Sản Nhi, bệnh viện đa khoa khu vực. Trong tháng, đã tổ chức thông xe toàn tuyến Cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi với chiều dài 140km và thông xe tuyến Điện Biên Phủ đoạn từ đường Phan Châu Trinh tới đường 129 .

Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư đạt thấp so với kế hoạch được giao. Tính đến ngày 15/9/2018, tỷ lệ giải ngân đạt 55%, tương đương với cùng kỳ năm trước[9]; trong đó, nguồn vốn ngân sách địa phương đạt 54%; nguồn vốn Chương trình mục tiêu đạt 51%; nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia đạt 41%.

Các chủ đầu tư, đơn vị, địa phương tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn chỉnh hồ sơ, thủ tục quyết toán các công trình hoàn thành nhằm giải ngân 100% kế hoạch vốn năm 2018. Trong đó, tập trung giải ngân 100% vốn kế hoạch năm 2017 kéo dài sang năm 2018 trước 31/12/2018. Đối với các dự án khởi công mới năm 2018, đến 30/9/2018 chưa phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu xây lắp, UBND tỉnh sẽ xem xét cắt giảm, điều chuyển kế hoạch vốn. Đối với các dự án chuyển tiếp đã được bố trí vốn năm 2018, đến ngày 30/9/2018 tỷ lệ giải ngân dưới 50% thì sẽ không bố trí kế hoạch vốn năm 2019 theo tinh thần chỉ đạo tại Công văn số 3947 ngày 18/8/2018 của UBND tỉnh.

Chỉ đạo kiểm soát nợ công và đôn đốc thu hồi nguồn vốn nợ tạm ứng từ năm 2010 trở về trước; đến hết quý II năm 2018, nợ khối lượng hoàn thành toàn tỉnh hơn 1.781 tỷ đồng, giảm 23,7 tỷ đồng so với quý I/2018; trong đó khối ngành tăng 94,4 tỷ đồng, khối huyện giảm 118 tỷ đồng. Các chủ đầu tư đang tập trung xử lý nợ, đặc biệt các khoản nợ phát sinh trước ngày 31/12/2014.

Trong 9 tháng, thành lập mới 1.022 doanh nghiệp, tổng vốn đăng ký hơn 8.394 tỷ đồng, tăng 140 doanh nghiệp so với cùng kỳ năm trước; thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh 346 doanh nghiệp, giải thể 1.684 doanh nghiệp[10]. Số doanh nghiệp bị giải thể tăng cao đột biến là do đang rà soát, bắt buộc các doanh nghiệp bị thu hồi giấy phép đăng ký kinh doanh quá 6 tháng phải giải thể theo quy định tại Điều 203 của Luật Doanh nghiệp.

Từ đầu năm đến nay, đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 23 dự án FDI, tổng vốn đăng ký gần 300,3 triệu USD, nâng tổng số dự án FDI còn hiệu lực trên địa bàn tỉnh lên 166 dự án, tổng vốn đăng ký 5,78 tỷ USD. Cấp phép 51 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký hơn 4.326 tỷ đồng. So với cùng kỳ, tăng 10 dự án FDI và giảm 02 dự án đầu tư trong nước.

5. Về một số lĩnh vực xã hội

Ngày 05/9/2018, các trường học trên địa bàn tỉnh đã khai giảng năm học mới theo đúng kế hoạch. Năm học 2018-2019, toàn tỉnh có 816 trường với 259.890 học sinh và 19.641 giáo viên. So với năm học trước, giảm 08 trường[11], tăng 2.981 học sinh. Để đảm bảo cơ sở vật chất cho năm học mới, đã sửa chữa và xây mới 682 phòng học, 162 công trình vệ sinh do khối phòng Giáo dục huyện quản lý. Tập trung đầu tư các hạng mục còn lại của các trường chuyên như: Nhà đa năng trường chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm; khối thư viện, thực hành trường chuyên Lê Thánh Tông; xây mới 12 phòng và khu ký túc xá trường THPT Võ Chí Công; sửa chữa, nâng cấp các công trình đã xuống cấp, xây mới 14 công trình vệ sinh và mua sắm bổ sung trang thiết bị phục vụ cho năm học mới.

Các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao trong tháng chủ yếu tập trung vào công tác thông tin, tuyên truyền nhiệm vụ chính trị và kỷ niệm các ngày lễ lớn, đặc biệt là kỷ niệm 73 năm cách mạng tháng tám thành công và Quốc Khánh 2/9.

Các chương trình, phong trào đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc người có công cách mạng được duy trì, tập trung đẩy mạnh. Tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm 71 năm ngày Thương binh, liệt sỹ. Tập trung giải quyết tích cực hồ sơ người có công, nhất là hồ sơ tồn đọng và hồ sơ có nhiều vướng mắc về quy trình thủ tục. Xác nhận, thực hiện chế độ trên 46 nghìn trường hợp; thẩm định, di chuyển hồ sơ, giải quyết đơn thư công dân liên quan đến chính sách người có công, giới thiệu giám định ADN xác định danh tính liệt sỹ, cấp sổ ưu đãi học sinh - sinh viên con gia đình chính sách 1.826 trường hợp. Đã tổ chức điều dưỡng cho 3.817 lượt người có công và thân nhân, đạt 63,6%/kế hoạch. Vận động thu Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” cấp tỉnh hơn 2,7 tỷ đồng; tặng 835 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho gia đình chính sách; vận động nâng mức phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng và nhận phụng dưỡng các Mẹ mới được phong tặng. Thực hiện trợ cấp xã hội tại cộng đồng cho 92.649 trường hợp bảo trợ xã hội và 10.622  hộ gia đình nhận chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng trợ cấp xã hội với kinh phí thực hiện trên 424,8 tỷ đồng.

Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm được quan tâm thường xuyên. Trong 9 tháng đã tổ chức 15 phiên giao dịch việc làm, thu hút 733 lượt doanh nghiệp tham gia với nhu cầu tuyển dụng hơn 13.700 chổ làm/1 phiên; đưa 741 lao động đi làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài[12]. Quyết định chi trả trợ cấp thất nghiệp cho 8.330 lao động, với tổng số tiền hơn 85 tỷ đồng.

Qua 9 tháng đầu năm đã tuyển sinh đào tạo nghề cho 23.746 lao động; trong đó, tuyển mới tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là 14.746 và khoảng 9.000 lao động được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn theo các chương trình khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư, tại các doanh nghiệp, làng nghề. Riêng số lao động được đào tạo học nghề theo cơ chế hỗ trợ đào tạo lao động cho chương trình, dự án trọng điểm và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020 theo Nghị quyết số 12 của HĐND tỉnh và Quyết định 3577 của UBND tỉnh là 1.122 người.

Tiếp tục đầu tư phát triển hạ tầng y tế, mở rộng qui mô giường bệnh, phát triển một số kỹ thuật mũi nhọn y tế chuyên sâu, trong đó đáng chú ý là việc đầu tư nâng cấp và xây dựng các bệnh viện trên địa bàn tỉnh như: Bệnh viện Sản Nhi; bệnh viện đa khoa khu vực Quảng Nam, bệnh viện đa khoa khu vực miền núi phía Bắc. Cải tạo nâng cấp Hệ thống xử lý chất thải tại 4 bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh và 4 trung tâm y tế tuyến huyện[13]. Công tác phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm được kiểm soát tốt nên hạn chế được các dịch bệnh nguy hiểm. Tuy nhiên, một số bệnh truyền nhiễm do thời tiết như: bệnh tay, chân, miệng; sốt xuất huyết; tiêu chảy; thủy đậu, quai bị vẫn xảy ra nhưng đa số đều giảm so với cùng kỳ. 

6. Công tác cải cách hành chính; nội chính, quốc phòng - an ninh được đảm bảo

Trung tâm hành chính công và xúc tiến đầu tư tiếp nhận 49.343 hồ sơ, đã giải quyết 46.127 hồ sơ, tỷ lệ giải quyết trước và đúng hạn đạt 98%. Tiếp tục hoàn thiện 3 Trung tâm Hành chính công cấp huyện đã đi vào hoạt động[14], chỉ đạo các địa phương còn lại xây dựng phương án thành lập Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ.

Tiếp tục triển khai thực hiện tốt các Nghị quyết 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 và Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 06/2/2017 của Chính phủ về thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Rà soát, đơn giản hóa các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền quản lý, giải quyết của tỉnh, ở một số lĩnh vực như: Đầu tư, đất đai, môi trường, cấp phép xây dựng, quy hoạch; hải quan, thuế, thương binh và xã hội; bảo hiểm; bảo đảm 03 giảm: giảm hồ sơ, thủ tục, giảm khâu trung gian trong quy trình thực hiện; giảm chi phí cho tổ chức, doanh nghiệp và công dân. Triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4; đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các hành vi nhũng nhiễu, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp.

Công tác tiếp công dân được duy trì thường xuyên, qua 9 tháng đầu năm, đã tiếp 2.795 lượt/3.044 người, tăng 17,3% so với cùng kỳ, trong đó có 28 đoàn đông người. Qua tiếp công dân các ngành, các cấp tiếp nhận nhiều ý kiến phản ánh, kiến nghị, hỏi về chế độ, chính sách; khiếu nại tập trung chủ yếu về tranh chấp đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư; chế độ chính sách và lĩnh vực khác; tố cáo liên quan đến lĩnh vực hành chính. Các cơ quan, đơn vị, địa phương giải thích rõ về chế độ, chính sách, pháp luật và hướng dẫn người khiếu kiện đến cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết; giúp lãnh đạo các cấp giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo, nguyện vọng chính đáng của công dân.

Tiếp nhận 2.218 đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của nhân dân, tăng 23% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù đơn tăng nhưng chủ yếu tập trung đơn kiến nghị, phản ánh, tranh chấp; hạn chế đơn thư vượt cấp và không phát sinh điểm nóng. Qua giải quyết đơn thư các cấp, các ngành chú trọng tổ chức tốt công tác đối thoại nên công dân đã rút đơn đáng kể; bên cạnh đó, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý, giải quyết những nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Công tác quốc phòng, quân sự địa phương của tỉnh được triển khai thực hiện chặt chẽ, đúng quy định. Công tác diễn tập đạt kết quả tốt; chế độ sẵn sàng chiến đấu ở các cấp được duy trì nghiêm túc. Tiềm lực khu vực phòng thủ được tăng cường, củng cố. Hoàn thành chỉ tiêu giao quân ngay từ đầu năm, đảm bảo chất lượng và chỉ tiêu theo quy định với hơn 2.500 thanh niên lên đường nhập ngũ.

Tình hình an ninh trật tự trên địa bàn ổn định; theo dõi nắm chắc tình hình, đảm bảo an ninh, an toàn, góp phần tổ chức thành công các hoạt động kỷ niệm những ngày lễ và các sự kiện lớn của tỉnh. Chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện các giải pháp đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; đồng loạt ra quân tấn công trấn áp các loại tội phạm, điều tra xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, triệt xóa các tụ điểm phức tạp về tệ nạn xã hội, triệt phá nhiều đường dây tổ chức đánh bạc, ma túy, góp phần đảm bảo tốt tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh.

Về tai nạn giao thông, từ  ngày 16/12/2017 đến ngày 15/9/2018, trên địa bàn tỉnh xảy ra 167 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 141 người, bị thương 106 người. So với cùng kỳ năm trước, tăng 12 vụ, tăng 29 người chết nhưng giảm 02 người bị thương. Xảy ra 04 vụ tai nạn giao thông đường sắt, làm chết 03 người, bị thương 01 người.

Như vậy, qua 9 tháng đầu năm, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đạt được một số kết quả nhất định. Chỉ số sản xuất công nghiệp, năng lực sản xuất và khả năng tiêu thụ một số ngành chủ lực có dấu hiệu phục hồi và tăng so cùng kỳ. Sản xuất nông nghiệp ổn định, chăn nuôi phát triển khá, dịch bệnh được kiểm soát. Thương mại, du lịch tăng cao so cùng kỳ. Thu ngân sách vượt tiến độ và cao hơn so với cùng kỳ cả về số thu và tiến độ thu. Khả năng huy động vốn, tín dụng tăng trưởng tốt. Tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững, an sinh xã hội được đảm bảo.

Vì vậy, để đạt cao nhất các chỉ tiêu kinh tế xã hội đã đề ra trong năm 2018, các ngành, địa phương cần bám sát kế hoạch, tập trung thực hiện tốt các giải pháp bổ sung đã đề ra tại Nghị quyết số 05/NQ-HĐND ngày 19/7/2018 của HĐND tỉnh về bổ sung nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế xã hội 6 tháng cuối năm; tập trung tháp gỡ khó khăn, cải thiện môi trường đầu tư nhằm phát triển sản xuất, kinh doanh; thúc đẩy tiến độ thi công các công trình, thu hồi các nguồn tạm ứng, giải ngân 100% vốn đầu tư xây dựng cơ bản.



[1] 8 tháng 2018 chỉ số sản xuất ô tô giảm 7,2% so cùng kỳ

[2] Chế biến và bảo quản thủy sản  tăng 39%; sản xuất hàng may sẵn, tăng trên 57%; cưa, xẻ, bào gỗ và bảo quản gỗ tăng 45%; sản xuất các sản phẩm từ cao su tăng 23%; sản xuất cấu kiện kim loại tăng 86%; sản xuất xe có động cơ tăng 26%.

[3] Như: nhà máy thủy điện sông Tranh 3, dự án mở rộng dây chuyền sản xuất bia Heineken dự kiến đi vào hoạt động trong quý IV/2018

[4] Trong đó có 177 khách sạn với 9.516 phòng; 250 homestay với 1.000 phòng; 168 biệt thự du lịch với 1.623 phòng

[5] Chỉ còn khoảng 1.000ha lúa nước và 3.350ha lúa rẫy tập trung ở các huyện miền núi cao chưa thu hoạch

[6] Đàn lợn 470 nghìn con, tăng 6,8% so cùng kỳ

[7] Cùng kỳ năm 2017 tăng 11,5%

[8] Ngân hàng nhà nước Việt Nam xây dựng kế hoạch tăng trưởng tín dụng năm 2018 là 17%

[9] Cùng kỳ tháng 9/2017 tỷ lệ giải ngân đạt 56%

[10] 9 tháng năm 2017 thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh 285 doanh nghiệp, giải thể 80 doanh nghiệp

[11] 01 trường mầm non và 07 trường phổ thông trung học

[12] Trong đó, Nhật Bản: 551 lao động, Hàn Quốc: 156 lao động, thị trường khác: 34 lao động.  

[13] Tuyến tỉnh gồm: bệnh viện đa khoa tỉnh, bệnh viện đa khoa Khu vực, bệnh viện đa khoa khu vực miền núi phía Bắc và Bệnh viện Nhi. Tuyến huyện gồm: trung tâm y tế Quế Sơn, Hiệp Đức, Nông Sơn, Nam Trà My

[14] Gồm: Thành phố Tam Kỳ, Hội An và thị xã Điện Bàn

Tác giả: Huỳnh Thị Yến Phi - Phòng Quy hoạch - Tổng hợp

[Trở về]

Các tin cũ hơn:

BẢN QUYỀN THUỘC SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ QUẢNG NAM
Số 222/GP-BC do Cục báo chí ( Bộ văn hoá - thông tin ) cấp ngày 09/08/2006
Điện thoại:02353.810.394 Email:02353.810.396
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)

Tổng số lượt truy cập