Thông tin - Thông báo









Liên Kết Web

Chi tiết tin

Báo cáo kết quả phát triển kinh tế xã hội thực hiệnNghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI giữa nhiệm kỳ 2015-2020

Người đăng: Nguyễn Văn Đàn Ngày đăng: 14:03 | 18/10 Lượt xem: 80

Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XXI được triển khai thực hiện trong bối cảnh tình hình kinh tế trong nước và quốc tế diễn biến phức tạp, khó lường. Nước ta ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng, nhất là lĩnh vực kinh tế tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức. Đối với tỉnh ta, nền kinh tế có quy mô nhỏ, khả năng cạnh tranh còn hạn chế, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động thấp; với sự quyết tâm lãnh đạo của Tỉnh ủy, của HĐND và điều hành quyết liệt, có hiệu quả của UBND tỉnh; cùng sự đóng góp tích cực của nhân dân và các doanh nghiệp; qua 03 năm, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh chuyển biến tích cực, kinh tế duy trì ở mức tăng khá, chính trị xã hội ổn định, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân được tăng cường, kết quả trên các mặt cụ thể như sau:

I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1. Kinh tế có sự tăng trưởng khá

Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh 2010) bình quân qua 3 năm (2016-2018) của tỉnh là 12,33%; cao hơn so với chỉ tiêu bình quân đề ra cho giai đoạn 5 năm 2016-2020[1], nhưng chủ yếu là tăng đột biến ở năm 2016 (27%) do trong năm này ngành sản xuất ô tô đạt mức tăng kỷ lục[2]; năm 2017, 2018 GRDP tăng thấp hơn nhiều so với mức bình quân (năm 2017 tăng 5,09, năm 2018 dự kiến tăng 6%). Đến giữa năm 2017, do ảnh hưởng của chính sách thuế xe nhập khẩu các nước ASEAN giảm xuống 0% từ năm 2018 tạo nên tâm lý chờ giảm giá, ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ và giá bán ô tô. Ngành ô tô bắt đầu chững lại, đóng góp các loại thuế của ngành vào tăng trưởng chung sụt giảm.

Quy mô nền kinh tế (giá hiện hành) 6 tháng đầu năm 2018 đạt 40.790 tỷ đồng, đứng thứ hai so với khu vực kinh tế trọng điểm miền Trung. Nếu tính 1% GRDP lượng tăng tuyết đối của Quảng Nam là 286,5 tỷ đồng, cũng cao hơn rất nhiều so với các tỉnh trong khu vực, chỉ xếp sau Đà Nẵng[3]. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ trọng ngành nông – lâm – thủy sản trong GRDP giảm từ 14,6% năm 2015 xuống còn khoảng hơn 11% năm 2018, các ngành phi nông nghiệp từ 85,3% lên gần 89%[4]. GRDP bình quân đầu người đạt 60 triệu đồng, tăng 19 triệu đồng so với năm 2015.

Ngành công nghiệp - xây dựng vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng hơn 12%/năm, trong đó công nghiệp tăng hơn 10% nhưng chủ yếu tăng ở ngành công nghiệp chế biến chế tạo; sản xuất phân phối điện, khí đốt; quản lý và xử lý rác thải, nước thải; riêng ngành khai khoáng giai đoạn 2016-2018 giảm 7%/năm. Ngành ô tô chiếm gần 50% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp nhưng do ảnh hưởng chính sách thuế nhập khẩu từ các nước ASEAN nên tình hình sản xuất không ổn định[5]; đa số các ngành khác giá trị sản xuất năm sau cao hơn năm trước. Một số các sản phẩm công nghiệp chủ lực tiếp tục duy trì và phát triển như: linh kiện điện tử, giầy da, may mặc; thủy sản chế biến, sản xuất đồ uống. Riêng ngành sản xuất ô tô, trong năm 2018 đã đưa vào hoạt động nhà máy Thaco Mazda với công suất giai đoạn 1 là 50.000 xe/năm nên dự kiến trong những năm tới sẽ dần phục hồi.

Dịch vụ phát triển khá, tốc độ tăng bình quân hơn 14,6%/năm. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng năm 2018 dự kiến gần 47.490 tỷ đồng, tăng gâp 1,3 lần so với năm 2016. Hoạt động du lịch nhờ nâng cao chất lượng dịch vụ kết hợp với đa dạng hóa sản phẩm nên đã thu hút được lượng lớn khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế. Tổng lượt khách tham quan lưu trú 03 năm 2016 - 2018 ước hơn 15,6 triệu lượt, tăng bình quân 15,7%/năm; trong đó khách quốc tế hơn 8 triệu lượt. Doanh thu từ du lịch tăng bình quân khoảng 18,6%/ năm, góp phần tạo thêm nhiều việc làm, giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động. Mạng lưới cơ sở lưu trú tăng khá, tính đến giữa năm 2018 tổng số cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh lên hơn 900 cơ sở với khoảng 13.000 phòng đón khách. Số lượng khách sạn đạt tiêu chuẩn đón khách quốc tế ngày càng tăng, tính đến nay có 123 khách sạn đạt hạng sao[6] với gần 6.500 phòng.

  Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tiếp tục duy trì và phát triển ổn định, từng bước chuyển sang sản xuất hàng hoá, gắn với thị trường, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm. Tốc độ tăng trưởng toàn ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng bình quân hơn 3,7%/năm. Sản lượng lương thực có hạt tăng dần qua các năm và luôn đạt ở mức cao,trên 500.000 tấn/năm. Cơ cấu cây trồng chuyển từ các loại cây ít giá trị sang các loại có chất lượng cao, phù hợp xu thế thị trường và tránh các yếu tố bất lợi của thời tiết. Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao, diện tích sản xuất rau, quả theo tiêu chuẩn chất lượng ngày càng tăng. Chăn nuôi quy mô trang trại, gia trại phát triển; hiện nay toàn tỉnh có trên 1.000 gia trại chăn nuôi gia súc, gia cầm; 119 trang trại và 6 doanh nghiệp tham gia vào hoạt động ngành chăn nuôi. Tỷ trọng ngành chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm khoảng 30%, tăng 3% so với giai đoạn 2011-2015[7]. Quản lý, bảo vệ và phát triển rừng có hiệu quả. Từ năm 2016 đến nay, trên địa bàn tỉnh đã trồng mới hơn 2.238 ha rừng[8], khoán quản lý bảo vệ rừng 992,6 nghìn lượt ha; khoanh nuôi bảo vệ rừng 14.103 ha. Độ che phủ rừng năm 2018 khoảng 57,5%, vượt chỉ tiêu 5 năm đề ra[9].

Tổng thu ngân sách trên địa bàn tăng bình quân 11%/năm, trong đó thu nội địa tăng khoảng 19%/năm[10], cao hơn chỉ tiêu bình quân đề ra[11]; đặc biệt năm 2017, sau 20 năm tái lập tỉnh, Quảng Nam trở thành tỉnh tự cân đối ngân sách, có điều tiết về ngân sách Trung ương. Thu xuất nhập khẩu từ hơn 6.000 tỷ đồng năm 2016 giảm còn khoảng 4.300 tỷ đồng năm 2018. Thuế xuất nhập khẩu ngày càng giảm do thực hiện các hiệp định thương mại tự do (FTAs) đặc biệt là hiệp định thương mại khu vực ASEAN, mặt hàng ô tô nguyên chiếc giảm còn 0% từ năm 2018 nên ngành ô tô phải cạnh tranh rất gay gắt với thị trường trong nước và các nước trong khu vực, trong khi linh kiện ô tô chiếm trên 90% cơ cấu số thu xuất nhập khẩu toàn tỉnh. Mặt khác, đa số các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu của tỉnh là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chủ yếu là thực hiện công đoạn gia công nên số thuế phát sinh không nhiều.

2. Phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, chương trình nông thôn mới đạt được một số kết quả nhất định

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn, miền núi phát triển khá nhanh, từng bước đáp ứng yêu cầu sản xuất, đời sống của nhân dân; bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc và chuyển biến theo chiều hướng tích cực, đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn ngày càng tăng lên. Tính đến cuối năm 2017, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt 27,6 triệu đồng/người/năm, tăng gần 6,5 triệu đồng/người/năm so với năm 2015. Tập trung thực hiện tốt công tác rà soát quy hoạch, bố trí sắp xếp dân cư miền núi gắn với xây dựng nông thôn mới theo Nghị quyết số 05-NQ/TU của Tỉnh ủy. Qua đó đã hình thành nhiều khu dân cư khu vực núi cao đảm bảo các điều kiện sinh hoạt, sản xuất kinh doanh ổn định cho 3.068 hộ gia đình đồng bào dân tộc.

Hệ thống giao thông khu vực nông thôn không ngừng mở rộng và nâng cấp. Giai đoạn 2015-2018, đã thực hiện kiên cố hóa 445 km đường giao thông nông thôn và 192 km đường ĐH[12] với tổng kinh phí hơn 942 tỷ đồng, trong đó ngân sách tỉnh gần 489 tỷ đồng. Nhờ đó, số xã đạt tiêu chí giao thông theo chuẩn xây dựng nông thôn mới tăng lên 112 xã, hệ thống đường ĐH, giao thông nông thôn đảm bảo đi lại thuận lợi, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương; nâng số xã có đường ô tô đến trung tâm xã lên 99%, còn lại 02 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm đang được đầu tư[13].

Tập trung nguồn lực đầu tư các công trình thuỷ lợi, đê, kè phòng chống thiên tai. Nhiều cánh đồng lớn thực hiện dồn điền đổi thửa đi đôi với chỉnh trang đồng ruộng, cứng hóa kênh mương, giao thông nội đồng; nhờ đó, diện tích được tưới lên tới 75.000 ha đất nông nghiệp và 13.700 ha đất màu, nâng tỷ lệ diện tích đất lúa chủ động nước tưới lên tới 90%. Các công trình hạ tầng nghề cá, phục vụ nuôi trồng thuỷ sản tiếp tục được đầu tư mới, nâng cấp mở rộng; công trình phòng chống giảm nhẹ thiên tai như kè chống sạt lỡ bờ sông, gia cố đê ở những đoạn xung yếu, các khu tái định cư tập trung được đầu tư xây dựng. Một số tuyến đường lâm sinh, vườn ươm cây giống được đầu tư từ các dự án lâm nghiệp; đầu tư mới và nâng cấp các cơ sở sản xuất giống nông lâm nghiệp, xây dựng hạ tầng vùng sản xuất hạt giống lúa lai F1 được triển khai và đưa vào khai thác sử dụng có hiệu quả. Nhiều công trình hệ cấp nước tự chảy, giếng đào, giếng khoan được đầu tư, nâng tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh toàn tỉnh đạt khoảng 94,4% năm 2018.

Chương trình nông thôn mới đạt kết quả nhất định. Đến giữa tháng 6/2018 có 71 xã đạt chuẩn nông thôn mới, bình quân số tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới (NTM) của toàn tỉnh là 13,21 tiêu chí/xã, tăng 0,7 tiêu chí/xã so với năm 2016. Số xã dưới 8 tiêu chí là 36 xã; không còn xã dưới 5 tiêu chí. Dự kiến đến cuối năm 2018, phấn đấu 16 xã đạt chuẩn nông thôn mới, nâng tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới lên 87 xã, đạt 85,3% chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng đề ra[14], khả năng đến năm 2020 chỉ tiêu này sẽ hoàn thành vượt kế hoạch. 

Riêng đối với 96 xã miền núi thực hiện chương trình nông thôn mới, bình quân số tiêu chí đạt chuẩn 10,02 tiêu chí/xã. Thông qua chương trình và các chính sách hỗ trợ của Trung ương, của tỉnh, diện mạo nông thôn miền núi từng bước có sự thay đổi, hệ thống kết cấu hạ tầng được đầu tư, nâng cấp; đời sống vật chất, tinh thần đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được cải thiện; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc.

3. Thực hiện 3 nhiệm vụ đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, phát triển nguồn nhân lực và cải thiện môi trường đầu tư có nhiều chuyển biến tích cực.

3.1. Về phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ

Tiếp tục triển khai kế hoạch hành động thực hiện Kết luận số 37-KL/TU ngày 19/7/2016 của Tỉnh ủy về thực hiện ba nhiệm vụ đột phá về đầu tư kết cấu hạ tầng đồng bộ, phát triển nguồn nhân lực và cải thiện môi trường đầu tư giai đoạn 2016-2020. Nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng được huy động ngày càng đa dạng; ngoài nguồn lực từ ngân sách Nhà nước giữ vai trò chủ chốt, các nguồn lực từ doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế, nhân dân đóng góp cũng ngày càng tăng.

Qua 3 năm 2016-2018 tổng vốn đầu tư toàn xã hội hơn 73.600 tỷ đồng, tăng bình quân hơn 9,2%/năm, tỷ lệ bình quân vốn đầu tư phát triển toàn xã hội so với GRDP chiếm gần 29,4%, chưa đạt mục tiêu Nghị quyết đề ra[15]. Trong đó, nguồn vốn đầu tư thuộc khu vực nhà nước chiếm hơn 45% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; nguồn vốn này tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng; phát triển kinh tế xã hội nông thôn, miền núi và giảm nghèo. 

Nhiều tuyến giao thông quan trọng đã hoàn thành đưa vào sử dụng như: Cầu Cửa Đại và Đường ven biển, cầu Giao Thủy, đường ĐT610 đoạn nối Duy Xuyên với Nông Sơn, đường ĐT605, ĐT 608; các tuyến Trung ương đầu tư trên địa bàn như Đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, mở rộng, nâng cấp Quốc lộ 1. Triển khai đầu tư dự án Đường ĐT.607, cảng các Tam Quang, các tuyến nối từ Đường ven biển với QL1 và Cao tốc. Tiếp tục thực hiện một số dự án theo kế hoạch đầu tư công trung hạn, nhất là các trục giao thông khu vực miền núi như đường Tam Trà – Trà Cót, đường Trà My – Phước Thành, cầu Nông Sơn.

Hạ tầng các Khu công nghiệp, khu kinh tế tiếp tục được quan tâm đầu tư. Toàn tỉnh hiện có 9 khu công nghiệp (KCN) với tổng diện tích quy hoạch 4.734 ha. Đến nay có 7 khu đã đi vào hoạt động, diện tích đất sử dụng khoảng 1.026 ha, số lao động sử dụng khoảng 40.000 người. Tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp khoảng 51,2%. Ngoài ra, có 55 cụm công nghiệp đang triển khai thực hiện đầu tư xây dựng hạ tầng và đi vào hoạt động với diện tích 1.402 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp 964 ha. Tỉ lệ lấp đầy bình quân của các cụm công nghiệp đi vào hoạt động đạt 66,4%.

3.2. Phát triển nguồn nhân lực

Thực hiện tốt Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 12-8-2016 của Tỉnh ủy về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, kiện toàn tổ chức bộ máy giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng đến năm 2025. UBND tỉnh đã sắp xếp, kiện toàn một số cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh theo hướng tinh gọn, đáp ứng quy định hiện hành, hoạt động thông suốt và hiệu quả; rà soát và khắc phục sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực[16]. Tiến tới rà soát, xây dựng Đề án vị trí việc làm của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh.

Đào tạo, nâng cao trình độ và đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; bảo đảm đủ phẩm chất, năng lực thực thi công vụ. Giai đoạn 2016-2018, đã tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho hơn 52 nghìn lượt cán bộ công chức, viên chức. Qua đó, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong toàn tỉnh có bước chuyển biến tích cực; nhiều chỉ tiêu về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị được nâng lên rõ rệt[17]. Thường xuyên giám sát, kiểm tra, chấn chỉnh cán bộ, công chức; xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm, gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp.

Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm được quan tâm thường xuyên. Trong 03 năm tạo việc làm mới tăng thêm cho 48.000 lao động, trung bình mỗi năm hơn 15.000 lao động, đạt chỉ tiêu bình quân Nghị quyết đề ra[18]; đưa 1.903 lao động đi làm việc theo hợp đồng tại nước ngoài. Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch tích cực với tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp từ 47,7% năm 2016 giảm xuống còn 40% năm 2018; công nghiệp – xây dựng từ 24,6% tăng lên 30%, dịch vụ từ 27,7% lên 30% năm 2018. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị khoảng 3,3%. Có 83.609 người tham gia các khóa đào tạo tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và gần 25.000 người được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghề nghiệp tại các chương trình khuyến nông, khuyến công, khuyến ngư, các doanh nghiệp, làng nghề. Tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông theo theo Quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ cho 8.295 người; đào tạo nghề cho các chương trình, dự án trọng điểm theo Quyết định số 3577 của UBND tỉnh 1.815 người. Năm 2018, tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh ước đạt 58,5%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 3 tháng trở lên có chứng chỉ công nhận kết quả đào tạo 23,5%.

3.3. Cải thiện môi trường đầu tư

Tập trung chỉ đạo, điều hành quyết liệt, đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ các nhà đầu tư triển khai các dự án trọng điểm trên địa bàn, đảm bảo an sinh xã hội theo Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016, Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 của Chính phủ. Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách của Chính phủ về giảm, gia hạn nộp thuế cho các doanh nghiệp.

Chủ động rà soát, điều chỉnh các quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm phù hợp với thị trường và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp. Xây dựng và triển khai các hoạt động hỗ trợ kết nối doanh nghiệp theo cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị, kết nối với các doanh nghiệp lớn. Đa dạng hóa kênh thông tin phản ánh và tổ chức nhiều chương trình hỗ trợ, đối thoại doanh nghiệp theo ngành, lĩnh vực, địa phương. Công tác tư vấn, hỗ trợ pháp lý cho các doanh nghiệp trước và sau thành lập thường xuyên được duy trì đạt hiệu quả cao.

Tập trung giải quyết các tồn tại, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, bàn giao mặt bằng sạch cho các chủ đầu tư triển khai dự án đảm bảo tiến độ đề ra, nhất là các dự án trọng điểm, các dự án vùng Đông Nam và ven biển Điện Bàn – Hội An.

Qua phân tích chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 03 năm gần đây đều nằm trong top 10 tỉnh, thành phố có chỉ số tốt[19]. Kết quả thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp của tỉnh qua 03 năm tăng cao, số doanh nghiệp thành lập mới 3.860 doanh nghiệp, dự kiến đến cuối năm 2018 số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh lên hơn 6.900 doanh nghiệp, gấp 1,5 lần so với năm 2016, đạt 86,2% chỉ tiêu đề ra cho giai đoạn 2016-2020[20]; như vậy, khả năng sẽ hoàn thành trước hạn đối với chỉ tiêu tăng trưởng doanh nghiệp.

Cấp mới 61 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đăng ký gần 331 triệu USD; nâng số dự án FDI trên địa bàn tỉnh còn hiệu lực là 163 dự án với tổng vốn đầu tư hơn 5,6 tỷ USD. Cấp phép 230 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký gần 68 nghìn tỷ đồng. Các dự án tập trung phần lớn tại Khu KTM Chu Lai, các dự án du lịch ven biển và các cụm, khu công nghiệp tại các huyện Duy Xuyên, Thăng Bình, Điện Bàn.

4. Quản lý tài nguyên, môi trường được quan tâm

Thực hiện công tác điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất đất kỳ cuối (2016-2020) của tỉnh Quảng Nam. Đẩy nhanh tiến độ đo đạc, xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu quản lý đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhân dân các xã Vùng Đông. Quy định việc tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Triển khai thực hiện công tác sửa đổi, bổ sung Bảng giá đất trên địa bàn tỉnh thời kỳ 2015-2019.

Triển khai rà soát quy trình, thủ tục đất đai đã giải quyết cho các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Quảng Nam thời kỳ 2014-2017. Ban hành quyết định thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất 127 dự án, công trình trên địa bàn tỉnh. Đề xuất danh mục nhiệm vụ thực hiện Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh.

Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ môi trường, đặc biệt là ở các khu, cụm công nghiệp, các địa điểm vui chơi, du lịch. Giai đoạn 2016-2018 đã đầu tư xây dựng hoàn thành 04 nhà máy xử lý nước thải tập trung tại các khu công nghiệp: Tam Hiệp, Tam Thăng, Đông Quế Sơn và cơ khí ô tô Trường Hải; nâng số lượng các KCN đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải lên 06/07 KCN (chiếm 85,7%).

Tập trung chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để tăng cường quản lý lâm, khoáng sản, trong đó tập trung vào các nhiệm vụ tại Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 04-11-2016 của Tỉnh ủy về tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng và tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2017-2020. Chỉ đạo các ngành chức năng, địa phương triển khai phương án kiểm tra, truy quét các địa bàn trọng điểm về khai thác cát, sỏi trái phép.

5. Các vấn đề về văn hóa, xã hội được tập trung giải quyết

5.1. Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo.

Mạng lưới trường lớp ngày càng đa dạng, từng bước được sắp xếp phù hợp với khung hệ thống giáo dục quốc dân. Năm học 2017-2018, toàn tỉnh có 820 trường[21] với 329.905 học sinh, tăng 31 trường và gần 5.400 học sinh so với năm học 2015-2016; có 02 Trung tâm giáo dục thường xuyên và 44 trung tâm Tin học - Ngoại ngữ. Hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú phân bố đều khắp ở vùng đặc biệt khó khăn,  tạo điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục miền núi, vùng dân tộc thiểu số[22].

Công tác phân luồng, định hướng nghề nghiệp cho học sinh sau THCS, THPT được tập trung thực hiện. Tuy nhiên, tỉ lệ phân luồng học sinh của tỉnh còn thấp; tỷ lệ học sinh sau khi tốt nghiệp THCS vào học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chỉ đạt dưới 5%[23]. Tỉ lệ huy động trẻ ra lớp hằng năm đạt tỉ lệ khá cao; đã huy động được 99,4% trẻ đi học tiểu học; 90% học sinh học THCS; 73%  học sinh đi học THPT.

Chất lượng đội ngũ giáo viên được nâng lên[24], cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học cơ bản đáp ứng được nhu cầu dạy học[25], trong đó chú trọng đầu tư các trường chuyên, trường chất lượng cao. Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia được thực hiện tốt, đến nay trên địa bàn tỉnh có 492 trườngđạt chuẩn quốc gia, tăng 20 trường so với cùng kì năm học 2016-2017, đạt tỉ lệ 60%[26]; tiếp tục dẫn đầu các tỉnh Duyên hải miền Trung về công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia.

Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp về xây dựng cơ sở vật chất, phát triển  đội ngũ nên chất lượng giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực. Tỷ lệ tốt nghiệp THPT của tỉnh Quảng Nam trong vài năm gần đây có kết quả tương đối ổn định[27]; đội tuyển học sinh giỏi của tỉnh tham gia và đạt kết quả cao tại các cuộc thi cấp quốc gia.

5.2. Văn hóa, thông tin, thể thao tiếp tục phát triển.

Tập trung tuyên truyền về các sự kiện chính trị xã hội quan trọng của đất nước, của tỉnh; đặc biệt là kỷ niệm 20 năm tái lập tỉnh và 42 năm ngày Giải phóng tỉnh Quảng Nam; tổ chức chương trình nghệ thuật kỷ niệm 70 năm ngày thương binh liệt sỹ; các hoạt động trong khuôn khổ tuần lễ cấp cao APEC năm 2017 và Hội nghị Bộ trưởng Tài chính APEC tại tỉnh.

Tiếp tục đầu tư xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở; hoàn thành xây dựng hệ thống Trung tâm Văn hóa - Thể thao cấp huyện tại 18/18 huyện, thị xã, thành phố; 100% số Trung tâm Văn hóa - Thể thao cấp huyện có sân khấu, hội trường biểu diễn nghệ thuật. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa chuyển biến theo hướng tập trung vào thực chất, hiệu quả

Làm tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa; đến nay, trên địa bàn tỉnh có gần 400 di tích đã được xếp hạng; trong đó có 02 di sản thế giới, 04 di tích quốc gia đặc biệt; 60 di tích cấp quốc gia và 335 di tích cấp tỉnh. Từ các nguồn vốn của Trung ương và của tỉnh, đã thực hiện việc tu bổ, tôn tạo, dựng bia khoảng trên 50% tổng số các di tích. Trong đó, qua 03 năm 2016-2020 ngân sách tỉnh đã phân bổ 40 tỷ đồng để trùng tu 05 di tích cấp quốc gia và 100 di tích cấp tỉnh theo Nghị quyết số 161 ngày 07/7/2015 của HĐND tỉnh. So với mục tiêu Nghị quyết đề ra cho 05 năm 2016-2020 thì qua nữa nhiệm kỳ đã thực hiện 05/11 di tích cấp quốc gia (đạt 45%) và 100/139 di tích cấp tỉnh (đạt 72%).

Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành thể dục thể thao từng bước được đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi đào tạo vận động viên thể thao đạt thành tích cao tại các cuộc thi trong và ngoài tỉnh.

5.3. Công tác giảm nghèo và an sinh xã hội được thực hiện tốt.

Thông qua việc thực hiện các chương trình, chính sách giảm nghèo của Trung ương, của tỉnh đã góp phần giảm đáng kể tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh, từ 12,9% đầu năm 2016 còn 9,28% đầu năm 2018; trong đó, hộ nghèo thuộc khu vực đồng bằng còn 4,16%, khu vực miền núi 30,19%; bình quân hàng năm tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,6%, tuy chưa đạt so với mục tiêu Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI đề ra[28] nhưng phương thức giảm nghèo đã được đổi mới phù hợp theo tiêu chuẩn mới về xóa đói giảm nghèo, tạo cơ hội và điều kiện cho người nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản; làm tốt công tác truyền thông, nâng cao dân trí; tăng việc làm, thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân.

Hoàn thành việc hỗ trợ người có công với cách mạnh về nhà ở theo Quyết định 3363/QĐ-UBND ngày 30/10/2013 và Quyết định 966/QĐ-UBND ngày 20/3/2018 của UBND tỉnh cho 25.365/29.432 nhà với tổng kinh phí gần 642 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ hơn 86% so với kế hoạch. Dự kiến đến cuối năm 2018, tiếp tục xây dựng 4.037 nhà với kinh phí gần 119 tỷ đồng, hoàn thành Đề án đề ra.

Trong 03 năm, đã xác lập thủ tục công nhận 4.287 trường hợp được hưởng chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công[29]. Thẩm định, di chuyển hồ sơ, giải quyết đơn thư công dân liên quan đến chính sách người có công, giới thiệu giám định AND xác định danh tính liệt sỹ, đề nghị cấp lại bằng Tổ quốc ghi công cho 9.855 trường hợp. Vận động thu Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” được trên 12 tỷ đồng; vận động các cơ quan, đơn vị trong và ngoài tỉnh tặng 1.314 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho các gia đình chính sách, người có công có hoàn cảnh khó khăn với tổng kinh phí trên 4 tỷ đồng. Đến nay toàn tỉnh có 15.080 Bà mẹ Việt Nam anh hùng; hiện còn sống 802 Mẹ, tất cả các Mẹ còn sống đều đã phụng dưỡng. Hằng năm, tổ chức điều dưỡng cho trên 20.000 lượt người có công. Đời sống vật chất và tinh thần của các trường hợp người có công, chính sách ngày càng được cải thiện, hiện nay gần 97,3% hộ chính sách trong tỉnh có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình ở khu dân cư. 

5.4. Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng được cải thiện

Tiếp tục đầu tư phát triển hạ tầng y tế, mở rộng qui mô giường bệnh, phát triển một số kỹ thuật mũi nhọn y tế chuyên sâu, trong đó đáng chú ý là việc đầu tư nâng cấp và xây dựng các bệnh viện trên địa bàn tỉnh như: Bệnh viện Sản Nhi; bệnh viện đa khoa khu vực Quảng Nam, bệnh viện đa khoa khu vực miền núi phía Bắc. Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố và nâng cấp; số bác sỹ/vạn dân tăng dần qua các năm, từ 7,9 năm 2016 lên hơn 8,3 bác sỹ/vạn dân năm 2018; số giường bệnh vạn dân năm 2018 là 36,2 giường bệnh/vạn dân, vượt so với chỉ tiêu Nghị quyết Đảng bộ đặt ra cho giai đoạn 2016-2020[30]. Công tác phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm được kiểm soát tốt nên hạn chế được các dịch bệnh lớn, nguy hiểm. Tuy nhiên, một số bệnh truyền nhiễm do thời tiết vẫn xảy ra, đáng chú ý là bệnh bạch hầu xảy ra rãi rác ở khu vực miền núi nhưng đã được khống chế kịp thời. Bảo hiểm y tế đã phát huy tác dụng và thu hút được đông đảo nhân dân tham gia, đến năm 2018, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế hơn 92%. Chú trọng thực hiện chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo, cho trẻ em dưới 5 tuổi và các trường hợp chính sách xã hội khác. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn khoảng 12% vào năm 2018.

6. Cải cách hành chính được tập trung thực hiện

Triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 27-4-2016 của Tỉnh ủy về đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 – 2020. Nhiều chương trình và hoạt động cải cách thủ tục hành chính được thực hiện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và phục vụ nhân dân. Đặc biệt Trung tâm Hành chính công và Xúc tiến đầu tư tỉnh đi vào hoạt động từ đầu tháng 01/2017 và đã đạt được những kết quả nhất định. Qua gần 02 năm đi vào hoạt động, Trung tâm tiếp nhận 85.046 hồ sơ, đã giải quyết 78.578 hồ sơ, trong đó đúng và trước hạn 98%. Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có 19/19 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, 18/18 huyện, thị xã, thành phố và 213/244 xã, phường, thị trấn đã triển khai thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”.

Rà soát, đơn giản hóa các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền quản lý, giải quyết của tỉnh, ở một số lĩnh vực như: Đầu tư, đất đai, môi trường, cấp phép xây dựng, quy hoạch; hải quan, thuế, thương binh và xã hội; bảo hiểm; bảo đảm 03 giảm: giảm hồ sơ, thủ tục, giảm khâu trung gian trong quy trình thực hiện; giảm chi phí cho tổ chức, doanh nghiệp và công dân. Triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4; đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các hành vi nhũng nhiễu, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp.

Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức, trọng tâm là xây dựng cơ cấu cán bộ công chức theo vị trí việc làm, đổi mới đánh giá cán bộ công chức theo kết quả công việc, làm cơ sở để thực hiện lộ trình tinh giản biên chế trong thời gian sắp tới. Qua 03 năm đã sắp xếp, kiện toàn, giải thể 96 đơn vị, trong đó, giải thể 21 đơn vị; hợp nhất 25 đơn vị và chuyển giao 50 đơn vị. Tiếp tục kiện toàn, sắp xếp các Ban quản lý, quỹ, hội, thôn, các đơn vị sự nghiệp và bộ máy bên trong của các sở, ngành, địa phương theo Kế hoạch số 139-KH/TU ngày 28/02/2018 của Tỉnh ủy. Hoàn thành việc thẩm định Đề án vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức qua đó phê duyệt Đề án tinh giản biên chế các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính. Đưa vào vận hành Hệ thống thông tin điện tử một cửa, kết nối liên thông tới cả 3 cấp chính quyền để theo dõi, cập nhật, thống kê, tổng hợp thông tin về tình hình, kết quả giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính của tất cả các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện, cấp xã; hạn chế tối đa trường hợp phải phối hợp qua hồ sơ giấy thông thường.

7. Đảm bảo tốt quốc phòng và an ninh, đối ngoại được tăng cường

Công tác quốc phòng, quân sự địa phương của tỉnh được triển khai thực hiện chặt chẽ, đúng quy định. Công tác diễn tập đạt kết quả tốt; chế độ sẵn sàng chiến đấu ở các cấp được duy trì nghiêm túc. Tiềm lực khu vực phòng thủ được tăng cường, củng cố. Hoàn thành công tác giao quân hàng năm, đảm bảo chất lượng, 100% chỉ tiêu theo quy định.

Tình hình an ninh trật tự trên địa bàn ổn định; theo dõi nắm chắc tình hình, đảm bảo an ninh, an toàn, góp phần tổ chức thành công các hoạt động kỷ niệm những ngày lễ và các sự kiện lớn của tỉnh. Chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện các giải pháp đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; đồng loạt ra quân tấn công trấn áp các loại tội phạm, điều tra xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, triệt xóa các tụ điểm phức tạp về tệ nạn xã hội, góp phần đảm bảo tốt tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh.

Triển khai hoàn thành tốt nhiệm vụ đối ngoại. Duy trì, phát triển toàn diện mối quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt giữa tỉnh Quảng Nam với tỉnh Sê Kông kết nghĩa. Tổ chức nhiều hoạt động giao lưu, quảng bá văn hóa Quảng Nam với nước ngoài như: Nhật Bản, Hàn Quốc; gặp gỡ ngoại giao đoàn. Chủ động củng cố và đẩy mạnh hợp tác với địa phương thuộc các nước trong khu vực và quốc tế.

Như vậy, so với Nghị quyết Đại Hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XXI đề ra, qua 03 năm (2016-2018) tình hình thực hiện trên các lĩnh vực như sau:

- Đối với nhóm 07 chỉ tiêu về kinh tế: Có 01 chỉ tiêu chưa đạt tốc độ tăng bình quân đề ra đó là Tổng vốn đầu tư toàn xã hội/GRDP; 04 chỉ tiêu phải tiếp tục phấn đấu thì khả năng đạt hoặc vượt vào năm 2020, gồm: GRDP bình quân đầu người, cơ cấu GRDP, Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu và tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới; 02 chỉ tiêu đạt tốc độ tăng bình quân đó là Tốc độ tăng GRDP và thu ngân sách; tuy nhiên cả 02 chỉ tiêu này đạt được là do tăng đột biến ở năm 2016 nên kéo theo tốc độ tăng bình quân cả giai đoạn 2016-2018 đạt chỉ tiêu đề ra, còn lại các năm sau tốc độ tăng rất thấp, vì vậy phải tiếp tục phấn đấu thì khả năng đến năm 2020 mới đạt được 02 chỉ tiêu này.

- Đối với nhóm 17 chỉ tiêu về xã hội, môi trường thì đã có 02 chỉ tiêu vượt kế hoạch đề ra cho cả giai đoạn 2016-2020, gồm: Tỷ lệ che phủ rừng và số giường bệnh/vạn dân; 02 chỉ tiêu đạt gồm: Tỷ lệ lao động nông nghiệp và giải quyết việc làm mới tăng thêm; 01 chỉ tiêu Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đã không còn trong hệ thống chỉ tiêu thống kê theo các văn bản pháp luật hiện hành nên không có số liệu để tổng hợp; 10 chỉ tiêu cơ bản đảm bảo, có khả năng đạt hoặc vượt theo kế hoạch vào năm 2020, gồm: Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, Tỷ lệ học sinh nhập học đúng độ tuổi, tỷ lệ lao động qua đào tạo, số bác sĩ/vạn dân, tuổi thọ bình quân, tỷ lệ khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn môi trường, tỷ lệ chất thải rắn đô thị được thu gom, tỷ lệ chất thải y tế được xử lý đạt chuẩn môi trường, tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, tỷ lệ hộ dân đô thị được sử dụng nước sạch; 01 chỉ tiêu còn cách khá xa so với kế hoạch và rất khó đạt được vào năm 2020 là tỷ lệ đô thị hóa; 01 chỉ tiêu không đạt đó là Giảm tỷ lệ hộ nghèo.

II. MỘT SỐ KHÓ KHĂN, TỒN TẠI

1. Về kinh tế

Tuy tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân 03 năm vượt chỉ tiêu bình quân đề ra nhưng là do yếu tố đột biến ở năm 2016, khi quy mô nền kinh tế đã tăng cao, các ngành kinh tế tăng trưởng ổn định và không xuất hiện nhân tố nổi trội tạo động lực phát triển thì tốc độ tăng trưởng các năm sau sẽ thấp hơn giai đoạn đầu, nên khả năng hoàn thành kế hoạch (GRDP tăng bình quân 10-10,5%/năm) là rất khó thực hiện.

Ngành công nghiệp giai đoạn 2016-2018 vẫn duy trì tốc độ tăng nhưng không cao và có xu hướng giảm dần, nhất là ngành công nghiệp khai khoáng tiếp tục giảm và chưa có dấu hiệu phục hồi, ngành sản xuất ô tô mặc dù tăng trưởng khá nhưng tập trung ở dòng xe du lịch, chỉ số sản xuất và tiêu thụ dòng xe tải, xe bus giảm dần; ngành điện sản xuất theo kế hoạch điều động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam nên mức tiêu thụ không ổn định. Hầu hết các doanh nghiệp công nghiệp của tỉnh là doanh nghiệp vừa và nhỏ, phần lớn sản xuất theo hình thức gia công nên giá trị gia tăng thấp.

Trong nông nghiệp vẫn còn tình trạng người dân không tuân thủ lịch mùa vụ, nhất là hộ nuôi tôm, là một trong những nguyên nhân dẫn đến dịch bệnh trên tôm nuôi xảy ra hàng năm, gây khó khăn cho việc ngăn ngừa, hạn chế dịch bệnh. Tính liên kết trong chuỗi giá trị sản xuất - chế biến - tiêu dùng chưa chặt chẽ nên sức cạnh tranh yếu, tình trạng được mùa mất giá, phá rừng, lấn chiếm đất rừng, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép vẫn còn xảy ra.

Các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp đa số có quy mô nhỏ, rất hạn chế trong việc đứng ra thu mua, bao tiêu sản phẩm cho nông dân nên sản phẩm địa phương có sản lượng lớn vẫn còn khó khăn trong tiêu thụ. Nhiều sản phẩm có thế mạnh và tiềm năng nhưng do doanh nghiệp trên địa bàn có quy mô nhỏ, chủ yếu là hộ gia đình sản xuất thủ công, chưa đảm bảo tiêu chí, quy chuẩn mẫu mã, bao bì sản phẩm và chất lượng, an toàn thực phẩm để đáp ứng yêu cầu, điều kiện cung ứng vào các hệ thống phân phối hiện đại.

Bình quân số tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới theo bộ tiêu chí mới còn thấp, nhiều địa phương đã đạt chuẩn nhưng khi áp dụng bộ tiêu mới thì lại không đạt.

Thu ngân sách mặc dù có tăng nhưng không ổn định; số thu ở một số lĩnh vực quan trọng như ô tô, thủy điện, bia diễn biến khó lường. Tình trạng trốn thuế, nợ thuế; thất thu ngân sách, nhất là lĩnh vực khai thác tài nguyên khoáng sản, xăng dầu, đất đai vẫn còn tồn tại, chưa thể khắc phục triệt để.

Huy động vốn đầu tư phát triển gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng lớn đến nguồn lực để phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, nhiều công trình trọng điểm thiếu vốn. Các cơ chế định hướng thu hút các nguồn vốn đầu tư toàn xã hội tuy có nhiều cải thiện nhưng nhiều mặt còn hạn chế như bồi thường, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, giá đất, giao đất tái định cư; cũng như việc chậm triển khai theo cam kết của nhà đầu tư.

Số lượng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh có tăng; tuy nhiên, hơn 90% các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên khó khăn trong huy động vốn, chậm đổi mới công nghệ, khả năng cạnh tranh thấp, sản xuất, kinh doanh có khó khăn. Chiến lược ngành mũi nhọn, thu hút đầu tư trong và ngoài nước đang chịu sức ép cạnh tranh với các khu kinh tế trong nước và các nước trong khu vực.

2. Về xã hội

Nguồn lực đầu tư cho giáo dục trong thời gian qua dù đã được quan tâm nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu thực tế tại địa phương, vẫn còn nhiều cơ sở trường lớp học đang xuống cấp, thiếu dụng cụ học tập, đặc biệt là ở khu vực miền núi, vùng khó khăn. Việc phân luồng học sinh sau tốt nghiệp trung học cơ sở vào học các trường nghề có cải thiện đáng kể so với các năm trước, tuy nhiên, tỉ lệ vẫn còn thấp.

Chất lượng đào tạo lao động chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội và doanh nghiệp; số lượng lao động tham gia xuất khẩu lao động còn thấp so với tiềm năng lao động của tỉnh. Sự gắn kết giữa đào tạo với giải quyết việc làm, giữa đào tạo với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp chưa hiệu quả.

Tỷ lệ hộ nghèo giảm chưa đạt chỉ tiêu đề ra và còn cao so với bình quân chung cả nước[31]. Một số địa phương có tỷ lệ giảm nghèo rất thấp, cá biệt có địa phương không giảm mà tăng như huyện Tây Giang[32].

Công tác phòng chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh tuy đã được kiểm soát, song vẫn còn diễn biến phức tạp ở một số thời điểm và một số địa bàn. Xuất hiện một số ổ, nhóm tội phạm trộm cắp tài sản, cho vay nặng lãi, tổ chức đánh bạc hoạt động có tính chất chuyên nghiệp, diễn ra thời gian dài trên địa bàn liên huyện, liên tỉnh; đối tượng buôn bán, vận chuyển, nghiện ma túy ngày càng tăng và khó kiểm soát; các vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản với phương thức huy động vốn trả lãi suất cao xuất hiện ngày càng nhiều.

Một số địa phương chưa thực hiện đúng quy định đối với công tác tiếp công dân; công tác thẩm tra, xác minh; tham mưu giải quyết khiếu nại vẫn còn một số vụ việc kéo dài thời gian, nhất là đơn thư khiếu nại về lĩnh vực đất đai, liên quan đến công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng.

3. Về môi trường

Tình hình vi phạm các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản, khoáng sản vẫn còn xảy ra, nhiều vụ vi phạm có quy mô lớn, tính chất phức tạp tạo dư luận không tốt trong xã hội. Một số vụ khai thác cát trái phép trên biển, sông, bến bãi tuy đã được ngăn chặn, xử lý kịp thời nhưng còn tiềm ẩn tái phát.

Một số khu vực vẫn còn ô nhiễm môi trường, gây bức xúc trong nhân dân. Việc xử lý đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường chưa nghiêm và chưa kịp thời nên các vụ việc vi phạm môi trường vẫn xảy ra.

III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM TRONG GIAI ĐOẠN ĐẾN:

1. Tập trung công tác lập và quản lý quy hoạch

Triển khai thực hiện Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; các quy hoạch ngành, lĩnh vực đã được phê duyệt. Tập trung xây dựng hoàn chỉnh trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế mở Chu Lai, trình Bộ Giao thông vận tải phê duyệt quy hoạch chi tiết bến cảng Kỳ Hà; triển khai lập quy hoạch Cảng hàng không Chu Lai. Đối với một số quy hoạch ngành của tỉnh không thuộc danh mục phụ lục 2 của Luật Quy hoạch, đã có chủ trương, đề cương, yêu cầu phải hoàn chỉnh trình cấp có thẩm quyền phê duyệt trước khi Luật Quy hoạch có hiệu lực (trước ngày 01/01/2019).

Thực hiện đúng theo Luật Quy hoạch, Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 05/02/2018 của Chính phủ về triển khai thi hành Luật Quy hoạch; phối hợp cung cấp các thông tin với các cơ quan Trung ương để bổ sung vào các quy hoạch ngành quốc gia giai đoạn 2021-2030, trước mắt lưu ý bổ sung quy hoạch Khu Trung tâm khí điện miền Trung vào quy hoạch năng lượng quốc gia.

Tổ chức triển khai thực hiện lập quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 – 2030; đồng thời, các ngành căn cứ danh mục quy hoạch có tính chất kỹ thuật có liên quan thuộc Phụ lục 2 của Luật Quy hoạch, tham mưu UBND tỉnh triển khai thực hiện theo các quy định của pháp luật có liên quan.

2. Tăng cường quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường

Kiểm tra, giám sát chặt chẽ về quản lý đất đai, quản lý hiện trạng, quản lý theo quy hoạch; kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp cơi nới, xây mới trong khu vực đã quy hoạch. Không gia hạn thời gian cho thuê đất đối với các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, nhất là dự án khai thác khoáng sản, kinh doanh bất động sản. Xử lý nghiêm các trường hợp được giao đất, cho thuê đất thực hiện dự án, nhưng quá thời hạn cam kết vẫn chưa triển khai, không đưa đất vào sử dụng, không thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai. Không quy hoạch và triển khai các dự án xây dựng khu dân cư, khu đô thị, khai thác quỹ đất trên đất chuyên trồng lúa chủ động nước nằm dọc quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ và không có trong quy hoạch chung, quy hoạch phân khu được duyệt. Hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai, xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính trên địa bàn tỉnh để thực hiện cấp, đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; xây dựng mạng thông tin ngành tài nguyên và môi trường.

Kiểm soát chặt chẽ và phối hợp giải quyết khu vực đất, rừng giáp ranh giữa các địa phương có tranh chấp địa giới hành chính. Thường xuyên kiểm tra các cơ sở chế biến lâm sản trên địa bàn; kiên quyết đình chỉ hoạt động đối với cơ sở chế biến lâm sản vi phạm pháp luật; không cấp mới giấy phép kinh doanh đối với cơ sở chế biến lâm sản không phù hợp với quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2020.

Tăng cường kiểm tra, quản lý tài nguyên khoáng sản, công tác bảo vệ môi trường; công tác quản lý, cấp phép khai thác cát, sỏi lòng sông; kiểm soát tải trọng phương tiện và giám sát việc cấp phép, quản lý phương tiện, người lái, bến bãi; kiểm tra nguồn nguyên liệu của các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh; kịp thời xử lý nghiêm các trường hợp sử dụng nguồn nguyên liệu có nguồn gốc không rõ ràng, không hợp pháp.

Tập trung giải quyết tốt vấn đề môi trường ở các khu, cụm công nghiệp; có hình thức xử lý nghiêm đối với một số nhà máy sản xuất có xả thải ra môi trường chưa qua xử lý gây ô nhiễm môi trường. Chú trọng xử lý chất thải nguy hại, chất thải y tế; giải quyết vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Cải tạo và xử lý ô nhiễm môi trường trên các dòng sông, hồ; ứng phó và khắc phục hiệu quả các sự cố môi trường. Triển khai đầu tư các nhà máy xử lý rác thải, trước mắt hoàn chỉnh các thủ tục đầu tư 03 khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt gồm: Khu xử lý rác thải ở xã Đại Nghĩa, huyện Đại Lộc, Khu xử lý rác thải ở xã Quế Cường, huyện Quế Sơn và Khu xử lý rác thải ở xã Tam Xuân II, huyện Núi Thành.

3. Đẩy mạnh cải cách hành chính; tiếp tục thực hiện tốt chính sách tinh giảm biên chế

Tiếp tục thực hiện kế hoạch số 6308/KH-UBND ngày 15/11/2017 của UBND tỉnh về rà soát thủ tục hành chính, thực hiện phân cấp, ủy quyền giải quyết thủ tục hành chính tại Trung tâm hành chính công tỉnh.

Tiếp tục rà soát, đơn giản hóa các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền quản lý, giải quyết của tỉnh, ở một số lĩnh vực như: Đầu tư, đất đai, môi trường, cấp phép xây dựng, quy hoạch; hải quan, thuế, thương binh và xã hội; bảo hiểm; bảo đảm 03 giảm: giảm hồ sơ, thủ tục, giảm khâu trung gian trong quy trình thực hiện; giảm chi phí cho tổ chức, doanh nghiệp và công dân. Triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4; đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các hành vi nhũng nhiễu, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp.

Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức, trọng tâm là xây dựng cơ cấu cán bộ công chức theo vị trí việc làm, đổi mới đánh giá cán bộ công chức theo kết quả công việc, làm cơ sở để thực hiện lộ trình tinh giản biên chế trong thời gian sắp tới. Hoàn thành việc kiện toàn, sắp xếp các Ban quản lý, quỹ, hội, thôn, các đơn vị sự nghiệp và bộ máy bên trong của các sở, ngành, địa phương theo Kế hoạch số 139-KH/TU ngày 28/02/2018 của Tỉnh ủy. Hoàn thành việc phê duyệt Đề án vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức, Đề án tinh giản biên chế các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố.

Triển khai sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tỉnh nhằm giảm mạnh đầu mối, nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp, khắc phục sự chồng chéo, dàn trải, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ theo Chương trình số 15-CTr/TU ngày 27/02/2018 của Tỉnh ủy và Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính. Đưa vào vận hành Hệ thống thông tin điện tử một cửa, kết nối liên thông tới cả 3 cấp chính quyền để theo dõi, cập nhật, thống kê, tổng hợp thông tin về tình hình, kết quả giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính của tất cả các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện, cấp xã; hạn chế tối đa trường hợp phải phối hợp qua hồ sơ giấy thông thường.

4. Tiếp tục phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, cải thiện môi trường môi trường đầu tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Tiếp tục phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ đến năm 2020 theo Nghị quyết của Tỉnh ủy, trọng tâm là phát triển mạng lưới giao thông, kết cấu hạ tầng trọng điểm, chiến lược. Tăng cường liên kết giao thông giữa vùng Đông và vùng Tây, giữa đô thị và nông thôn.

Tiếp tục phát triển, khớp nối hạ tầng giao thông thông suốt, kết nối các tuyến giao thông chính giữa cao tốc với quốc lộ và tỉnh lộ, giữa các tuyến đường huyện (ĐH) và đường tỉnh (ĐT); liên kết các tuyến ven biển. Phối hợp, thúc đẩy hoàn thành các dự án Trung ương đầu tư trên địa bàn tỉnh. Đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành các dự án trọng điểm của tỉnh: Tuyến đường Điện Biên Phủ, dự án nâng cấp, mở rộng các tuyến đường ĐT, các tuyến nối từ đường ven biển (129) đến đường Quốc lộ 1A và đến đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi; hạ tầng khu công nghiệp Tam Thăng; đường trục chính nối cảng Tam Hiệp đến đường cao tốc, cảng cá Tam Quang, tuyến đường dẫn phía Bắc cầu Cửa Đại (giai đoạn 2), Bệnh viện Sản Nhi; các dự án hỗ trợ đầu tư từ chương trình biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh, triển khai tốt các dự án sử dụng vốn trái phiếu chính phủ giai đoạn 2017-2020. Tiếp tục thực hiện các nghị quyết của HĐND tỉnh về chương trình kiên cố hóa các tuyến ĐH, phát triển giao thông nông thôn, phát triển kinh tế xã hội miền núi, trùng tu di tích, chương trình xây dựng nông thôn mới.

Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế. Từng bước giải quyết một phần tình trạng thiếu nhà ở và các hạ tầng xã hội thiết yếu như nhà trẻ, mẫu giáo, trường học, cơ sở khám chữa bệnh cho lao động tại các khu công nghiệp trong Khu Kinh tế mở Chu Lai, Điện Nam- Điện Ngọc, Tam Thăng và các khu công nghiệp hiện có.

Phát triển hạ tầng đô thị theo quy hoạch phát triển đô thị tỉnh giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; trong đó, tập trung phát triển các đô thị loại IV đến năm 2020 như: Thị trấn Nam Phước, Hà Lam, Khâm Đức, Ái Nghĩa, Thạnh Mỹ và các đô thị loại III như: Núi Thành, Điện Bàn. Chú ý xây dựng và tổ chức thực hiện các cơ chế phát triển đô thị loại II và thị xã. Ưu tiên cải tạo, nâng cấp các trục đường chính ra vào đô thị, đặc biệt là Hội An và Tam Kỳ bằng các chương trình, dự án ODA.

Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư. Tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm hành chính công và Xúc tiến đầu tư, phấn đấu giải quyết 100% các thủ tục tại Trung tâm. Chỉ đạo các địa phương xây dựng phương án thành lập Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ.

Thực hiện các giải pháp nhằm cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số quản trị và hành chính (PAPI), chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX), chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông (ICT INDEX).

Hỗ trợ thực hiện các thủ tục đảm bảo giao mặt bằng đúng thời gian theo cam kết với nhà đầu tư. Rà soát, thu hồi giấy phép các dự án đầu tư không triển khai đúng tiến độ cam kết để giao đất cho các nhà đầu tư có nhu cầu đầu tư thực sự.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp về phát triển nguồn nhân lực, trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo thêm việc làm mới, chuyển dịch cơ cấu lao động. Làm tốt công tác đào tạo nghề, nhất là cho lao động nông thôn, miền núi. Rà soát, thu hút, phân bố các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động phổ thông về khu vực nông thôn, miền núi, các cụm công nghiệp, nhằm tạo việc làm lao động nông thôn.

Hỗ trợ đào tạo xuất khẩu lao động, xem đây là một chương trình lớn, có ý nghĩa quan trọng, đồng thời mở rộng sự tham gia của các thành phần kinh tế, đặc biệt chú ý vùng đồng bào dân tộc thiểu số; nâng cao chất lượng nguồn lao động xuất khẩu để tham gia vào sâu thị trường lao động với yêu cầu ngày càng cao, tạo nguồn lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội.

5. Tập trung hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh, phát triển doanh nghiệp và khởi nghiệp

Triển khai Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 15/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện hiệu quả Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết 35/NQ-CP ngày 16/5/2016, Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP  ngày 06/02/2017 của Chính phủ về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn và các quỹ về bảo lãnh tín dụng, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư vào các lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục, dạy nghề, thể thao và môi trường, xử lý rác thải theo Nghị định 59 của Chính phủ. Tổ chức gặp gỡ, đối thoại với doanh nghiệp nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh. Cung cấp thông tin hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ đào tạo lao động, tiếp cận và ổn định trong sử dụng đất đai, vốn.

Chú trọng hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường xuất khẩu nhất là đối với một số mặt hàng chủ lực của tỉnh như: Hàng dệt may, giày da, vận tải và phụ tùng, sản phẩm sắt thép, linh kiện điện tử, thủy sản, sản phẩm gỗ, nguyên liệu giấy, hàng nông sản. Chú trọng thị trường nội địa, hỗ trợ các doanh nghiệp tiêu thụ các sản phẩm, hàng tồn kho, phát triển hàng hóa về nông thôn.

Tiếp tục tổ chức có hiệu quả các hoạt động quảng bá, xúc tiến đầu tư, đúng đối tượng, trọng tâm, trọng điểm để thu hút nguồn vốn doanh nghiệp nội địa và đầu tư nước ngoài. Hướng dẫn, hỗ trợ nhà đầu tư hoàn chỉnh hồ sơ, thủ tục những dự án trọng điểm tại vùng Đông Nam đã có chủ trương của Thường trực Tỉnh ủy.

Tiến hành rà soát, phân loại ngành nghề kinh doanh của các hộ cá thể, xây dựng phương án hỗ trợ, khuyến khích hộ kinh doanh cá thể chuyển đổi thành doanh nghiệp.

6. Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp – nông thôn, miền núi và giảm nghèo

Đẩy mạnh thực hiện kế hoạch tái cơ cấu ngành nông nghiệp, làm tốt chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” gắn với thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững. Bên cạnh đó, phát huy tiềm năng lợi thế của kinh tế rừng, phát triển cây dược liệu, gắn với bảo vệ và phát triển rừng bền vững; đẩy mạnh việc thực hiện các quy hoạch của ngành nông nghiệp, chuyển giao khoa học công nghệ đối với sản xuất. Thường xuyên theo dõi, phòng chống dịch bệnh trên cây trồng và con vật nuôi, đặc biệt là không để xảy ra bệnh Tai xanh ở lợn, lở mồm long móng gia súc, cúm gia cầm.

Triển khai thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách về nông nghiệp, nông thôn hiện có và các quy hoạch ngành, lĩnh vực đã được phê duyệt. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao; hoàn thành đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp, thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 05 của Tỉnh ủy và Nghị quyết số 12 của HĐND tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội miền núi giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025, trong đó tập trung 05 nhóm dự án: Sắp xếp, bố trí dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới; bảo vệ, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế rừng, khai thác sản phẩm dưới tán rừng; phát triển chăn nuôi, hỗ trợ sản xuất; phát triển du lịch, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề và phát triển kết cấu hạ tầng. Triển khai trồng rừng gỗ lớn, chuyển đổi trồng rừng sản xuất theo hướng bền vững; phát triển cây dược liệu, lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng. Thực hiện tốt công tác bảo tồn, phát triển Sâm Ngọc Linh và các cây dược liệu; đẩy mạnh chăn nuôi tập trung, nuôi trồng thủy sản các hồ chứa thủy lợi, thủy điện.

Huy động, lồng ghép các nguồn lực, phấn đấu trong năm 2020 có 119 số xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm tỷ lệ 58,3% tổng số xã, vượt so với số lượng theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI đề ra[33].

Hoàn thành đề án bê tông hóa giao thông nông thôn và nâng cấp, sửa chữa  các tuyến ĐH. Nâng cấp, sửa chữa các kết cấu hạ tầng xuống cấp ở các khu vực tái định cư, đảm bảo nơi ở mới của người dân tốt hơn nơi ở cũ. Trong đó chú ý đến vấn đề đất sản xuất, nước sinh hoạt và các dịch vụ cơ bản khác.

Đẩy nhanh việc thực hiện công tác giảm nghèo theo Nghị quyết 02-NQ/TU ngày 27/4/2016 của Tỉnh ủy, Nghị quyết số 13/2017/NQ-HĐND ngày 19/4/2017 của HĐND tỉnh, nhất là đối với các huyện nghèo, xã nghèo ở khu vực miền núi. Có giải pháp giảm nghèo phù hợp cho từng nhóm hộ, từng vùng, nhóm đối tượng, đặc biệt là các hộ nghèo thuộc đối tượng bảo trợ xã hội. Đa dạng hóa nguồn vốn huy động để thực hiện công tác giảm nghèo, tăng cường bố trí ngân sách nhà nước cho dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; tăng cường huy động sự đóng góp của doanh nghiệp, vận động sự tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để thực hiện mục tiêu giảm nghèo.

7. Thực hiện tốt mục tiêu phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 25-4-2017 của Tỉnh ủy về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tỉnh Quảng Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2025. Tập trung đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương án bố trí đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý các trường học. Tăng cường công tác tuyên truyền, tư vấn hướng nghiệp trong nhà trường nhằm nâng cao nhận thức của học sinh về giáo dục nghề nghiệp. Quy hoạch, sắp xếp lại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, nắm bắt nguyện vọng nghề nghiệp, xây dựng kế hoạch phân luồng đối với từng khóa học nhằm nâng dần tỷ lệ phân luồng sau trung học cơ sở vào học nghề.

Thực hiện đầy đủ các chính sách, chế độ ưu đãi người có công cách mạng, thanh niên xung phong, trợ cấp, bảo hiểm xã hội. Hoàn thành dứt điểm hỗ trợ xây dựng nhà ở cho người có công; giải quyết hồ sơ khen thưởng thành tích kháng chiến tồn đọng trên địa bàn tỉnh đảm bảo theo đúng quy trình, thủ tục, thời gian quy định.

  Thực hiện tốt Nghị quyết 05/NQ-CP ngày 13/01/2014 của Chính phủ về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ trong lĩnh vực y tế; Nghị quyết số 11/2017/NQ-HĐND ngày 19/4/2017 của HĐND tỉnh về chính sách hỗ trợ đào tạo kỹ thuật chuyên sâu cho viên chức sự nghiệp y tế công lập tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 2017-2021. Tiếp tục chương trình đầu tư nâng cấp các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện, trạm y tế các xã. Triển khai thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh nguy hiểm có nguy cơ cao xảy ra ở người. Đẩy mạnh công tác y tế dự phòng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; công tác phòng, chống các dịch bệnh nguy hiểm (bệnh dại, tay chân miệng, sốt xuất huyết, bạch hầu…), nhất là trong thời điểm giao mùa. Chú trọng thực hiện chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo, cho trẻ em và các trường hợp chính sách xã hội khác. Thực hiện công tác phòng, chống suy dinh dưỡng ở trẻ em, nhất là ở khu vực miền núi, vùng khó khăn. Từng bước thay đổi tập quán, hủ tục và nâng cao kiến thức cho phụ nữ vùng cao trong việc nuôi con nhỏ, góp phần giảm thiểu tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng.

          Thực hiện Nghị quyết số 46 ngày 29/3/2013 của Chính phủ về phát triển khoa học và công nghệ; Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020 và các chương trình quốc gia về khoa học và công nghệ và các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, xác lập, bảo vệ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Đẩy mạnh chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ trong phát triển sản xuất, nhất là sản xuất, chế biến, bảo quản các sản phẩm nông nghiệp và phát triển nông thôn. Chú trọng áp dụng công nghệ trong phát triển giống lúa lai, sâm Ngọc Linh và các cây dược liệu trên địa bàn tỉnh.

8. Giữ vững an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh

         Đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn. Tăng cường công tác nghiệp vụ, kỹ thuật đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là các đối tượng tội phạm nguy hiểm, nghiên cứu triển khai công tác tạm giữ, giam giữ tập trung các đối tượng sử dụng các chất kích thích từ ma túy để đảm bảo an ninh trật tự trong cộng đồng.

Tập trung công tác phòng, chống ma túy; nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện và quản lý sau cai nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh. Tăng cường giáo dục, dạy nghề cho học viên tại Cơ sở cai nghiện ma túy của tỉnh. Hướng dẫn các địa phương duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động các mô hình trên lĩnh vực phòng chống tệ nạn xã hội; thực hiện tốt công tác xây dựng xã, phường, thị trấn lành mạnh.

Tăng cường công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các đối tượng cho vay nặng lãi trên địa bàn tỉnh. Theo đó cần chủ động phát hiện, xử lý ngay các đối tượng chuyên cho vay nặng lãi; không để móc nối hình thành băng nhóm hoạt động kéo dài gây bức xúc trong dư luận. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân hiểu rõ về hành vi, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng cho vay nặng lãi để phòng ngừa, cảnh giác.

         Tăng cường công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo nhất là các vụ việc khiếu nại đông người; rà soát, xử lý dứt điểm các đơn thư tồn đọng, xử lý kết luận sau thanh tra. Đẩy mạnh công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông, kiềm chế tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh; công tác tuần tra kiểm soát, kiểm tra tải trọng.

Tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, doanh nghiệp và nhân dân./.


[1] Chỉ tiêu tăng trưởng GRDP theo Nghị quyết XXI đề ra 10-10,5%/năm

[2] Năm 2016 số lượng sản xuất hơn 94.000 xe; sản lượng xe bán ra 116.330 xe

[3] Quy mô nền kinh tế các tỉnh khu vực kinh tế trọng điểm miền Trung 6 tháng đầu nam 2018: Đà Nẵng 42.896 tỷ đồng; Huế 21.604 tỷ đồng, Quảng Ngãi 34.205 tỷ đồng, Bình Định 33.149 tỷ đồng. 1% GRDP lượng tăng tuyệt đối:  Đà Nẵng 322,9 tỷ đồng, Huế 140,4 tỷ đồng, Quảng Ngãi 225,6 tỷ đồng, Bình Định 213,1 tỷ đồng

[4] Trong đó: công nghiệp xây dựng 35,58%, dịch vụ 34,48%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp 18,91%

[5] Năm 2016 sản xuất 105.139 xe, năm 2017 sản xuất 89.449, năm 2018 dự kiến sản xuất 97.000 xe

[6] Trong đó: 6 khách sạn 5 sao, 20 khách sạn 4 sao, 20 khách sạn 3 sao,36 khách sạn 2 sao và 41 khách sạn 1 sao.

[7] Giai đoạn 2011-2015, tỷ lệ chăn nuôi chiếm khoảng 27% giá trị sản xuất nông nghiệp

[8] Trong đó: trồng rừng sản xuất 1.629 ha, trồng rừng phòng hộ 130,3 ha và trồng rừng thay thế 479,2 ha

[9] Chỉ tiêu đề ra đến năm 2020, tỷ lệ che phủ rừng 52%

[10] Trong đó thu nội địa năm 2015 là 9.659 tỷ đồng, năm 2018 là 16.270 tỷ đồng

[11] Chỉ tiêu Nghị quyết XXI đề ra thu nội địa tăng bình quân 15%/năm

[12] Thực hiện 445/571 km đường giao thông nông thôn, đạt gần 78% đề án và kiên cố hóa 192/320 km đường ĐH, đạt 60% mục tiêu đề án đề ra.

[13] Xã Chơ Chun và xã Gari

[14] Chỉ tiêu Nghị quyết đề ra đến năm 2020 có 50% số xã (tương đương 102 xã) đạt chuẩn nông thôn mới

[15] Mục tiêu Nghị quyết: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm chiếm trên 30% so với GRDP

[16] Chuyển giao chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của BQL các Khu công nghiệp về Sở Công Thương; Chuyển giao BQL ĐN-ĐN về UBND thị xã Điện Bàn quản lý; chuyển giao chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về Sở Nội vụ

[17] Về trình độ chuyên môn: Tiến sĩ 05 người, đạt tỷ lệ: 0,17%; thạc sĩ 206 người, đạt tỷ lệ 6,96%; đại học 2.279 người, đạt tỷ lệ 77,05%; còn lại 468 người, đạt tỷ lệ 15,8%. Về trình độ lý luận chính trị: Cao cấp lý luận chính trị và cử nhân lý luận chính trị có 878 người, đạt tỷ lệ 29,7%; trung cấp lý luận chính trị: 421 người, đạt tỷ lệ 14,2%.

[18] Chỉ tiêu Nghị quyết: Bình quân mỗi năm tạo việc làm mới tăng thêm cho 15.000 lao động

[19] Năm 2015 xếp thứ 08/63 tỉnh thành, Năm 2016 đứng vị thứ 10/63 tỉnh thành; năm 2017 xếp thứ 07/63 tỉnh thành

[20] Theo Chương số 11-CTr/TU ngày 24/8/2017, đặt mục tiêu đến năm 2020 số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đạt 8.000 doanh nghiệp

[21] Mầm non: 272 trường, tiểu học: 274 trường, THCS: 218 trường, THPT: 56 trường

[22] Tại 9 huyện miền núi của tỉnh có 24 trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học, 29 trường phổ thông dân tộc bán trú cấp THCS (tính cả TH&THCS), 4 trường PTDTNT huyện cấp THCS; 3 trường PTDTNT huyện có 2 cấp học THCS, THPT, 13 trường THPT và 1 trường PTDTNT tỉnh (Hội An )

[23] Mục tiêu Nghị quyết 11 của Tỉnh ủy, phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 20% học sinh sau khi tốt nghiệp THCS vào học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

[24] Toàn ngành giáo dục hiện có 05 tiến sĩ, 3 nghiên cứu sinh và 240 thạc sỹ, còn lại trình độ đại học

[25] Hiện nay, toàn tỉnh có 9.392 phòng học, trong đó số phòng học kiên cố khoảng 5.747 phòng, đạt tỷ lệ 61,2%

[26] Trong đó, THPT 15 trường, THCS 123 trường, tiểu học 209 trường, mầm non 145 trường

[27] Năm 2016 tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT là 86%, năm 2017 hơn 94%, năm 2018 là 95,5%

[28] Mục tiêu đề ra hàng năm giảm 2-2,5%

[29] Trong đó: 586 người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học; 466 người có công giúp đỡ cách mạng; 151 người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; 1.518 người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; 36 liệt sĩ; 19 thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; 204 Huân chương độc lập cho gia đình có nhiều liệt sĩ và 1.247 Bà mẹ VNAH

[30] Mục tiêu đặt ra đến năm 2020 phấn đấu 31,5 giường bệnh/vạn dân

[31] Năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn dưới 7%; của tỉnh 9,28%

[32] Tỷ lệ hộ nghèo năm 2016: 46,32%, năm 2017: 48,4%

[33] Theo Nghị quyết XXI, đến năm 2020 có 102 số xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm tỷ lệ 50% tổng số xã

Tác giả: Huỳnh Thị Yến Phi - Phòng Quy hoạch - Tổng hợp

[Trở về]

Các tin cũ hơn:

BẢN QUYỀN THUỘC SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ QUẢNG NAM
Số 222/GP-BC do Cục báo chí ( Bộ văn hoá - thông tin ) cấp ngày 09/08/2006
Điện thoại:02353.810.394 Email:02353.810.396
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)

Tổng số lượt truy cập