default Red Green

Chi tiết tin

Tình hình thực hiện phát triển kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2019

Người đăng: Nguyễn Văn Đàn Ngày đăng: 15:07 | 10/12 Lượt xem: 248

Thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ, Nghị quyết 14-NQ/TU ngày 03/12/2018 của Tỉnh ủy, Nghị quyết số 35/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019; Nghị quyết số 05/NQ-HĐND ngày 12/7/2019 về bổ sung nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm; với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh, tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng đầu năm đã có những chuyển biến tích cực và đạt được một số kết quả cụ thể sau:

1. Về kinh tế

1.1.  Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp 9 tháng đầu năm tăng trưởng chậm; nhất là trong quý III, chỉ số sản xuất công nghiệp giảm 10,3% so với quý II và giảm 3,5% so với quý cùng kỳ, trong đó giảm ở hầu hết các ngành[1]. Nguyên nhân chủ yếu là do ngành ô tô gặp khó khăn khi phải cạnh tranh khốc liệt với thị trường trong và ngoài nước; các doanh nghiệp ngành dệt may, giày da thiếu đơn hàng; ngành điện tiếp tục giảm do ít mưa, lưu lượng trung bình nước về hồ thấp nên các nhà máy chủ yếu vận hành theo lệnh điều động của Trung tâm điều độ Quốc gia. Tính chung 9 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp chỉ tăng 1,9% so cùng kỳ năm 2018.

Chỉ số tiêu thụ công nghiệp chế biến, chế tạo 9 tháng giảm 10,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm, thuỷ sản giảm 33,7%; sản xuất xi măng, vôi, thạch cao giảm 31,3%; sản xuất sản phẩm từ cao su giảm 27,3%; sản xuất xe có động cơ giảm 16%. Chỉ số tồn kho tháng 9 giảm 7,7% so với tháng trước.

Chỉ số sử dụng lao động đến cuối tháng 9 tăng 2,64% so với cùng kỳ, trong đó tăng chủ yếu ở khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 3,8% và khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 2,5%.

1.2. Thương mại, dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9 hơn 4.666 tỷ đồng, tăng 3% so với tháng trước và tăng 15,3% so với tháng cùng kỳ; trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa 3.328 tỷ đồng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 1.023 tỷ đồng, doanh thu du lịch lữ hành đạt 57 tỷ đồng, doanh thu dịch vụ khác đạt 259 tỷ đồng. Tính chung 9 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn tỉnh hơn 40.542 tỷ đồng, tăng gần 13% so với cùng kỳ. Trong đó, chủ yếu là ngành hàng thương nghiệp chiếm 71,7% tổng mức và tăng 15%, hoạt động lưu trú và ăn uống chiếm 21%, tăng gần 9%.

Hoạt động du lịch nhờ nâng cao chất lượng dịch vụ kết hợp với đa dạng hóa sản phẩm nên đã thu hút được lượng lớn khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế. Tổng lượt khách lưu trú trên địa bàn tỉnh 9 tháng hơn 2.854 nghìn lượt khách, tăng 7% so với cùng kỳ; trong đó khách quốc tế gần 1.328 nghìn lượt, tăng 16,5%. Tổng lượt khách tham quan gần 2.575 nghìn lượt, tăng 14,5% so với cùng kỳ, trong đó khách quốc tế đạt gần 1.492 nghìn lượt, tăng gần 6,9%. Doanh thu du lịch 09 tháng hơn 4.400 tỷ đồng, tăng gần 18% so với cùng kỳ năm 2018. Thu nhập xã hội từ du lịch ước đạt 10.340 tỷ đồng.

Mạng lưới và chất lượng cơ sở lưu trú ngày càng được nâng cao. Tính đến nay, toàn tỉnh có hơn 1.000 cơ sở với khoảng hơn 15.000 phòng đón khách, tăng 8,7% so với cùng kỳ[2]. Khách sạn đạt tiêu chuẩn đón khách quốc tế có 128/188 khách sạn đạt hạng sao với gần 8.000 phòng, tăng 2,4%; trong đó 7 khách sạn 5 sao, 23 khách sạn 4 sao, 20 khách sạn 3 sao, 38 khách sạn 2 sao và 40 khách sạn 1 sao.

Tổng doanh thu ngành vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 9 tháng đạt 3.189 tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ, trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 608 tỷ đồng, tăng 15,2%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.090 tỷ đồng, tăng 13,4%; doanh thu hoạt động kho bãi và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 491 tỷ đồng, tăng 11,2%.

Chỉ số giá tiêu dùng trên địa bàn tỉnh tháng 9 tăng 0,63% so với tháng trước; bình quân 9 tháng đầu năm, chỉ số giá tăng hơn 2,45% so với cùng kỳ.

1.3. Sản xuất nông nghiệp

Tính đến giữa tháng 9, cả tỉnh đã cơ bản thu hoạch xong diện tích lúa vụ Hè Thu, năng suất ước tính đạt 48,5 tạ/ha, giảm 1 tạ/ha so với cùng vụ năm trước; sản lượng hơn 207.150 tấn, giảm hơn 8.850 tấn. Ước tính sản lượng lúa cả năm 2019 hơn 451.340 tấn, giảm 2,4%; năng suất 53,2 tạ/ha, giảm 0,5 tạ/ha so với năm 2018. Diện tích gieo trồng và năng suất một số cây hàng năm khác tương đương cùng vụ năm trước; sản lượng các loại cây lâu năm, cây ăn quả đạt khá nhờ thời tiết thuận lợi[3].

Mô hình liên kết sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển, các Hợp tác xã nông nghiệp, nông dân ở các địa phương trên địa bàn tỉnh đã liên kết với các doanh nghiệp sản xuất hơn 4.350 ha lúa giống và 133 ha giống cây trồng cạn chủ lực như ớt, bắp, đậu phụng, mè... theo phương thức bao tiêu đầu ra sản phẩm, giúp nhà nông tăng thêm 25 - 45% giá trị kinh tế trên cùng đơn vị diện tích.

Cơ cấu cây trồng chuyển dịch theo hướng tích cực, chuyển dần diện tích trồng lúa và cây trồng cạn sản xuất kém hiệu quả sang các loại cây khác với tổng diện tích 915 ha[4], trong đó vụ Đông Xuân hơn 585,3 ha, vụ Hè Thu 329,7 ha. Cây trồng trong mô hình chuyển đổi đều cho năng suất cao và lợi nhuận tăng từ 20 - 30% so với sản xuất lúa trong cùng thời vụ, trên cùng chân đất.

Chăn nuôi gia cầm phát triển khá do tình hình dịch bệnh, giá bán sản phẩm được ổn định, đặc biệt người dân đang chuyển sang sử dụng sản phẩm gia cầm thay thế thịt lợn nên nhu cầu thịt và trứng gia cầm tăng mạnh, người chăn nuôi yên tâm đầu tư mở rộng quy mô đầu tư.

Chăn nuôi lợn tiếp tục gặp khó khăn do bệnh Dịch tả lợn Châu Phi ngày càng lây lan trên diện rộng. Tính đến ngày 20/9/2019 trên địa bàn tỉnh còn 27.191 hộ, 643 thôn, 158 xã, phường[5] ở 16/18[6] huyện, thị xã, thành phố có bệnh Dịch tả lợn Châu Phi chưa qua 30 ngày. Tổng số lợn tiêu hủy là trên 115 nghìn con, chiếm trên 30% tổng đàn. Đàn lợn cả tỉnh giảm sâu gần 30% so cùng kỳ năm trước, sản lượng thịt hơi xuất chuồng 9 tháng đầu năm đạt trên 20 nghìn tấn, giảm hơn 11%. Ngành chăn nuôi đang phối hợp với các địa phương thực hiện công tác phòng, chống dịch; hạn chế mức thấp nhất thiệt hại do dịch bệnh gây ra.

Tính chung 9 tháng, diện tích trồng rừng mới tập trung ước đạt 8.740 ha, tăng 3,1% so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác ước khoảng 1.039 nghìn m3, tăng 11,2%. Thường xuyên theo dõi, bảo vệ rừng, cập nhật, cảnh báo sớm nguy cơ cháy rừng; tuy nhiên tình trạng chặt phá và cháy rừng vẫn còn xảy ra. Từ đầu năm đến nay, diện tích rừng bị thiệt hại lên tới 173,8 ha, gấp 2,5 lần so cùng kỳ năm 2018; trong đó, diện tích rừng bị chặt phá là 8,5 ha, rừng bị cháy là 165,2 ha với thiệt hại ban đầu trên 12 tỷ đồng.

Tổng sản lượng thủy sản 9 tháng hơn 99.100 tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ; riêng sản lượng khai thác gần 78.330 tấn, tăng 3,5%. Diện tích nuôi trồng khoảng 8.500 ha, giảm 33 ha so với cùng kỳ, trong đó nuôi cá trên 5.100 ha, tăng 26 ha; nuôi tôm gần 2.700 ha, giảm 71 ha.

2. Xây dựng chương trình nông thôn mới

Phối hợp tổ chức thành công Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Đến nay, khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên có 604/1.424 xã đã được công nhận đạt chuẩn Nông thôn mới, chiếm tỷ lệ 42,41%, trong đó vùng Duyên hải có 378/825 xã và vùng Tây Nguyên có 226/599 xã. Vùng Duyên hải bình quân đạt 15,21 tiêu chí/xã, tăng 10,21 tiêu chí/xã so với năm 2010; vùng Tây Nguyên bình quân đạt 13,72 tiêu chí/xã, tăng 10,22 tiêu chí/xã so với năm 2010.

Đối với tỉnh, chương trình nông thôn mới đạt được những kết quả nhất định. Đến nay, bình quân chung số tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới (NTM) của toàn tỉnh (204 xã) là 14,27 tiêu chí/xã, nâng tổng số xã đạt chuẩn NTM đến nay là 85 xã, đạt 41,67%; không còn xã dưới 5 tiêu chí. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt 31,58 triệu đồng/người/năm; hình thành mới và duy trì trên 350 mô hình sản xuất, kinh doanh có hiệu quả. Xây dựng Khu dân cư NTM kiểu mẫu bước đầu triển khai nhưng đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện các tiêu chí NTM, tạo ra diện mạo mới ở nhiều địa phương.

Năm 2019, huy động nguồn lực tiếp tục thực hiện chương trình nông thôn mới, trong đó ngân sách Trung ương và tỉnh bố trí hơn 1.000 tỷ đồng để tập trung cho các xã về đích nông thôn mới giai đoạn 2019-2020 theo chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI đề ra[7]. Phấn đấu không còn xã đạt dưới 8 tiêu chí; chỉ đạo các xã đã đạt chuẩn NTM duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí NTM để phấn đấu trở thành xã NTM nâng cao, xã NTM kiểu mẫu; hoàn thành các mục tiêu NTM cấp huyện. Tiếp tục rà soát, điều chỉnh lộ trình và bổ sung thêm các xã có kết quả tốt trong xây dựng NTM vào danh sách xã phấn đấu đạt chuẩn NTM năm 2019.

3. Tài chính, tiền tệ và thu chi ngân sách

Các ngân hàng và tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh tiếp tục triển khai các chương trình, chính sách liên quan đến hoạt động tín dụng, để tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn vay.

Trong quý III, một số ngân hàng thương mại đã điều chỉnh tăng lãi suất huy động ở các kỳ hạn để thu hút nguồn vốn, tạo sự chủ động trong đầu tư tín dụng vào dịp cuối năm.Tuy nhiên, nhìn chung, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay tương đối ổn định, không biến động nhiều so với quý trước. Nguồn vốn huy động tăng trưởng khá, đến 30/9/2019 tổng vốn huy động của các ngân hàng trên địa bàn tỉnh hơn 55.900 tỷ đồng, tăng gần 13,5% so với đầu năm và tăng 16,8% so với cùng kỳ. Cơ cấu vốn huy động chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng vốn dài hạn, giảm dần nguồn vốn ngắn hạn; vốn huy động có kỳ hạn trên 12 tháng đạt 40.920 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 73,2% tổng huy động, tăng 18,6% so cùng kỳ; huy động không kỳ hạn và có kỳ hạn đến 12 tháng chiếm tỷ trọng 26,8% tổng nguồn.

Tín dụng tăng trưởng tốt, tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đến cuối tháng 9 hơn 71.780 tỷ đồng, tăng 20,7% so với đầu năm, vượt chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đặt ra trong năm 2019[8]. Vào những tháng cuối năm, nhu cầu vay vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh, tiêu dùng thường rất cao, trong khi chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trên địa bàn đã vượt so với kế hoạch đề ra nên việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ nay đến cuối năm sẽ khó khăn.

Nợ xấu 412 tỷ đồng, chiếm 0,57% tổng dư nợ, giảm 26,7% so với đầu năm. Các ngân hàng đang tìm hướng tháo gỡ khó khăn,  xử lý dứt điểm nợ xấu, tăng cường công tác giám sát và đốc thúc khách hàng trả nợ vay.

Thu ngân sách giảm so cùng kỳ. Ước đến ngày 30/9/2019, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn khoảng 18.343 tỷ đồng, bằng 79,3% dự toán, giảm gần 22% so cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa 13.844 tỷ đồng, bằng 74,7% dự toán, giảm 27,6%. Một số nguồn thu đạt thấp như: Nguồn thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước trung ương đạt thấp (46% dự toán) chủ yếu do thời tiết khô hạn, các nhà máy thủy điện không đủ nước phát điện theo công suất thiết kế, dự báo nguồn thu này khó có khả năng đạt dự toán; số thu từ hoạt động của Công ty ô tô Trường Hải  9 tháng 6.801 tỷ đồng, giảm 5,3% so với cùng kỳ[9]. Thu xuất nhập khẩu 4.499 tỷ đồng, đạt 97,8% dự toán.

Tổng chi ngân sách địa phương 12.141 tỷ đồng, bằng 45% dự toán, tăng 4,5% so với cùng kỳ; trong đó, chi thường xuyên 7.279 tỷ đồng, bằng 61% dự toán, chi đầu tư phát triển 4.860 tỷ đồng, tăng 7,6% so cùng kỳ.

4. Về đầu tư và xây dựng

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng hơn 24 nghìn tỷ đồng, tăng 7,3% so cùng kỳ. Trong đó, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn nhà nước quản lý ước thực hiện 5.785 tỷ đồng, giảm gần 10% so cùng kỳ; vốn huy động khu vực ngoài nhà nước hơn 12.871 tỷ đồng, tăng gần 13%; vốn FDI khoảng 5.180 tỷ đồng, tăng 17,7% so cùng kỳ.

Tập trung đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ thi công một số dự án lớn trên địa bàn tỉnh như: Nâng cấp, mở rộng các tuyến đường ĐT, ĐH; các tuyến nối từ đường ven biển đến đường Quốc lộ 1A và đến đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi; đường trục chính từ khu công nghiệp Tam Thăng đi cảng Kỳ Hà và sân bay Chu Lai; phát triển hạ tầng sản xuất giống sâm Ngọc Linh; Sửa chữa và nâng cao an toàn đập (WB8). Bên cạnh đó, tập trung giải quyết các tồn tại, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, bàn giao mặt bằng sạch cho các chủ đầu tư triển khai dự án đảm bảo tiến độ đề ra, nhất là các dự án khởi công mới năm 2019 và các dự án trọng điểm chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXII.

Đôn đốc các Chủ đầu tư hoàn chỉnh hồ sơ, thủ tục đối với những dự án khởi công mới năm 2019 còn lại để được giao vốn[10]. Đến ngày 31/10/2019, nếu những dự án nào chưa phê duyệt quyết định đầu tư, sẽ xem xét điều chuyển vốn cho dự án khác.

Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư đạt thấp so với kế hoạch được giao. Tính đến ngày 15/9/2019 tỷ lệ giải ngân đạt 35%, thấp hơn so với cùng kỳ[11]. UBND tỉnh yêu cầu các chủ đầu tư, đơn vị, địa phương tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn chỉnh hồ sơ, thủ tục quyết toán các công trình hoàn thành nhằm giải ngân 100% kế hoạch vốn năm 2019 và năm 2018 kéo dài theo chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn số 2264/UBND-KTTH ngày 25/4/2019, Công văn số 4457/UBND-KTTH ngày 31/7/2019, Công văn số 5116/UBND-KTTH ngày 29/8/2019 và các văn bản liên quan. Theo đó, đối với kế hoạch vốn năm 2018 chuyển sang, đến ngày 15/10/2019 phải giải ngân 90% kế hoạch vốn, đến 30/11/2019 giải ngân hết số vốn còn lại; đối với các dự án được giao vốn từ đầu năm 2019, đến ngày 30/9/2019 tỷ lệ giải ngân dưới 50% sẽ xem xét điều chuyển cho dự án khác, dưới 30% thì không bố trí kế hoạch vốn năm 2020.

Trong 9 tháng, thành lập mới 1.094 doanh nghiệp, tổng vốn đăng ký hơn 13.150 tỷ đồng, tăng 11% so với cùng kỳ năm trước[12]; 87 doanh nghiệp đăng ký giải thể, tăng 02 doanh nghiệp so với cùng kỳ; 315 doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giảm 49% so với cùng kỳ. Cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động cho 102 chi nhánh và 36 văn phòng đại diện. Như vậy, tính đến ngày 15/9/2019 có 7.230 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh, trong đó 348 doanh nghiệp tư nhân, 1020 công ty cổ phần, 3.612 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; 2.250 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên.

Từ đầu năm đến nay, đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 16 dự án FDI, tổng vốn đăng ký 59,3 triệu USD[13], nâng tổng số dự án FDI còn hiệu lực trên địa bàn tỉnh lên 187 dự án, tổng vốn đăng ký 5,9 tỷ USD. Cấp phép 68 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký hơn 3.925 tỷ đồng, tăng 17 dự án so với cùng kỳ.

          5. Về một số lĩnh vực xã hội

Ngày 05/9/2019, các trường học trên địa bàn tỉnh đã khai giảng năm học mới theo đúng kế hoạch. Năm học 2019-2020, toàn tỉnh có 817 trường, giảm 01 trường so với năm học trước[14]; hơn 27.182 cán bộ, giáo viên, nhân viên; xây dựng mới 434 phòng học, 150 nhà vệ sinh và sửa chữa, cải tạo, nâng cấp nhiều công trình khác để phục vụ năm học mới. Toàn tỉnh hiện có 526 trường đạt chuẩn, chiếm tỉ lệ 61,74%[15]; với tỉ lệ này, Quảng Nam tiếp tục dẫn đầu các tỉnh Duyên hải miền Trung về công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia.

Kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia và tuyển sinh Đại học, Cao đẳng năm 2019, toàn tỉnh 14.258/16.000 thí sinh đỗ tốt nghiệp, đạt tỉ lệ 89%; trong đó nhiều em đạt điểm cao[16]. Hiện nay, các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh công bố điểm chuẩn, điểm trúng tuyển, xét tuyển, số lượng tuyển sinh theo kế hoạch

Các hoạt động văn hóa trong tháng chủ yếu tập trung vào công tác thông tin, tuyên truyền nhiệm vụ chính trị và kỷ niệm các ngày lễ lớn, đặc biệt là kỷ niệm 74 năm cách mạng tháng tám thành công và Quốc Khánh 2/9. Tổ chức thành công các hoạt động kỷ niệm 20 năm Đô thị cổ Hội An, Khu Đền tháp Mỹ Sơn được UNESCO công nhận Di sản văn hóa thế giới, 10 năm Cù Lao Chàm – Hội An được công nhận Khu Dự trữ sinh quyển thế giới.

Về thể thao, đã phối hợp tổ chức thành công giải Đua xe đạp quốc tế VTV Cúp Tôn Hoa Sen 2019; giải Bóng đá 11 người vô địch tỉnh Quảng Nam Cúp Phadin lần thứ XI năm 2019; Hội thi thể dục dưỡng sinh Người Cao tuổi. Đăng cai tổ chức Lớp tập huấn triển khai dạy võ Cổ truyền trong trường phổ thông khu vực miền Trung – Tây Nguyên năm 2019. Kiểm tra địa điểm lắp đặt hồ bơi lắp ghép tại các huyện trên địa bàn tỉnh.

Các chương trình, phong trào đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc người có công cách mạng được duy trì, tập trung đẩy mạnh. Tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm 72 năm ngày Thương binh, liệt sỹ. Tập trung giải quyết tích cực hồ sơ người có công, nhất là hồ sơ tồn đọng và hồ sơ có nhiều vướng mắc về quy trình thủ tục. Xác nhận, thực hiện chế độ trên 8.386 trường hợp; thẩm định, di chuyển hồ sơ, giải quyết đơn thư công dân liên quan đến chính sách người có công, giới thiệu giám định ADN xác định danh tính liệt sỹ, cấp sổ ưu đãi học sinh - sinh viên con gia đình chính sách 1.332 trường hợp. Đã tổ chức điều dưỡng cho 3.767 lượt người có công và thân nhân, đạt 85% kế hoạch. Vận động thu Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” cấp tỉnh gần 5,2 tỷ đồng; tặng 31 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho gia đình chính sách; vận động nâng mức phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng và nhận phụng dưỡng các Mẹ mới được phong tặng.

Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm được quan tâm thường xuyên. Trong 9 tháng đã đưa 1.032 lao động đi làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài[17]. Quyết định chi trả trợ cấp thất nghiệp cho 2.628 lao động, với tổng số tiền hơn 30,8 tỷ đồng. Tuyển sinh đào tạo nghề hơn 29.000 lao động; trong đó, tuyển mới tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là 9.981 người;  đào tạo thường xuyên, đào tạo dưới 3 tháng, đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn theo các chương trình khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư, tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, làng nghề 16.714 người. Riêng số lao động được đào tạo học nghề theo Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn và Cơ chế hỗ trợ đào tạo lao động cho chương trình, dự án trọng điểm và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh 2.847 người.

Tiếp tục đầu tư phát triển hạ tầng y tế, mở rộng qui mô giường bệnh, phát triển một số kỹ thuật mũi nhọn y tế chuyên sâu, trong đó đáng chú ý là việc đầu tư nâng cấp và xây dựng các bệnh viện trên địa bàn tỉnh như: Bệnh viện Sản Nhi; bệnh viện đa khoa khu vực Quảng Nam, bệnh viện đa khoa khu vực miền núi phía Bắc. Công tác phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm được kiểm soát tốt nên hạn chế được các dịch bệnh nguy hiểm. Tuy nhiên, một số bệnh truyền nhiễm do thời tiết như: bệnh tay, chân, miệng; sốt xuất huyết; tiêu chảy; thủy đậu, quai bị vẫn xảy ra[18].

Hoạt động nghiên cứu khoa học được chuyển biến theo hướng nâng cao chất lượng; tăng tỷ lệ ứng dụng gắn với thực tiễn sản xuất và đời sống. Tập trung đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp và phát triển các sản phẩm trọng điểm có lợi thế so sánh của địa phương. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật liệu mới nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả các hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ. Triển khai kế hoạch kiểm tra đo lường, chất lượng, nhãn hàng tại các cơ sở sản xuất kinh doanh; nắm bắt tình hình đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp. Tổ chức tập huấn chuyển đổi từ ISO 9001:2008 sang ISO 9001:2015 cho các cơ quan hành chính của tỉnh.

6. Về quản lý tài nguyên, môi trường

Về quản lý đất đai: Đã phê duyệt Kế hoạch sử dụng đất năm 2019 của các huyện, thị xã và thành phố. Tổng hợp các danh mục dự án thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất lúa, đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng năm 2019; Báo cáo Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường về chỉ tiêu đất rừng và chuyển đổi đất rừng theo Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư và Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 08/8/2017 của Chính phủ trong phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) của tỉnh Quảng Nam. Triển khai công tác xây dựng bảng giá đất thời kỳ 2020-2024; tình hình thực hiện và một số vướng mắc phát sinh trong công tác thẩm định giá đất.

Thẩm định nhu cầu sử dụng đất, điều kiện cho thuê đất đối với 7 Công ty trên địa bàn tỉnh. Quyết định thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất 93 dự án, công trình trên địa bàn tỉnh. Chỉ đạo các đơn vị, địa phương giải quyết những vướng mắc trong việc hoàn thiện dự án xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu quản lý đất đai tại các huyện Thăng Bình, Duy Xuyên và thành phố Tam Kỳ. Hướng dẫn các huyện, thành phố về rà soát đo đạc bổ sung tỷ lệ 1/5000, kê khai đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp vùng Đông.

Chỉ đạo khắc phục, xử lý sự cố tại bãi rác Tam Xuân II và các bãi rác trên địa bàn tỉnh, tăng cường quản lý rác thải tại địa phương trong thời gian giải quyết sự cố. Quyết định đưa ra khỏi danh sách cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đối với 01 cơ sở - Bệnh viện đa khoa khu vực miền núi phía Bắc Quảng Nam. Tăng cường công tác kiểm soát ô nhiễm không khí và xử lý triệt để các điểm nóng về ô nhiễm bụi, khí thải; khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường làng nghề trên địa bàn tỉnh.

7. Công tác cải cách hành chính; nội chính, quốc phòng - an ninh được đảm bảo

UBND tỉnh tiếp tục ban hành các văn bản chỉ đạo thực hiện công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh, với nhiệm vụ trọng tâm cải cách hành chính năm 2019 là kiện toàn, sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy; thực hiện tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; củng cố bộ phận một cửa các cấp, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ hành chính công. Qua đó, các thủ tục hành chính được giải quyết đúng hạn ngày càng tăng; từ đầu năm đến ngày 14/9/2019, Trung tâm hành chính công và xúc tiến đầu tư tiếp nhận 60.625 hồ sơ, đã giải quyết 56.639 hồ sơ, tỷ lệ giải quyết trước và đúng hạn đạt 98%.

Các sở, ngành, địa phương đã tổ chức sơ kết đánh giá, ban hành nhiều giải pháp, biện pháp cụ thể để chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác cải cách hành chính, hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách hành chính đã đề ra. Nhiều địa phương đã tích cực triển khai đánh giá và công bố kết quả xếp hạng Chỉ số cải cách hành chính năm 2018 các xã, phường, thị trấn.

Tiếp tục triển khai thực hiện tốt các Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ, Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 06/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021. Rà soát, đơn giản hóa các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền quản lý, bảo đảm 03 giảm: giảm hồ sơ, thủ tục; giảm khâu trung gian trong quy trình thực hiện; giảm chi phí cho tổ chức, doanh nghiệp và công dân. Triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4; đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các hành vi nhũng nhiễu, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp.

Rà soát về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức, biên chế của các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện. Các sở, ngành cũng đã sắp xếp, hợp nhất tổ chức bộ máy bên trong của các cơ quan, đơn vị trực thuộc, giảm được 12 đầu mối (11 phòng và 01 Chi cục)[19]. Thành phố Hội An, huyện Núi Thành, Nông Sơn giải thể Phòng Y tế, chuyển giao nhiệm vụ về Văn phòng HĐND và UBND huyện.

Công tác tiếp công dân được duy trì thường xuyên, qua 9 tháng đầu năm, đã tiếp 8.634/9.066 người, giảm 0,76% so với cùng kỳ[20], trong đó có 42 đoàn đông người. Qua tiếp công dân các ngành, các cấp tiếp nhận nhiều ý kiến phản ánh, kiến nghị, hỏi về chế độ, chính sách; khiếu nại tập trung chủ yếu về tranh chấp đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư; chế độ chính sách và lĩnh vực khác; tố cáo liên quan đến lĩnh vực hành chính. Các cơ quan, đơn vị, địa phương giải thích rõ về chế độ, chính sách, pháp luật và hướng dẫn người khiếu kiện đến cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết; giúp lãnh đạo các cấp giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo, nguyện vọng chính đáng của công dân.

Tiếp nhận 6.839 đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của nhân dân, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù đơn tăng nhưng chủ yếu tập trung đơn kiến nghị, phản ánh, tranh chấp. Qua giải quyết đơn thư các cấp, các ngành chú trọng tổ chức tốt công tác đối thoại nên công dân đã rút đơn đáng kể; bên cạnh đó, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý, giải quyết những nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Công tác quốc phòng, quân sự địa phương của tỉnh được triển khai thực hiện chặt chẽ, đúng quy định. Công tác diễn tập đạt kết quả tốt; chế độ sẵn sàng chiến đấu ở các cấp được duy trì nghiêm túc. Tiềm lực khu vực phòng thủ được tăng cường, củng cố. Hoàn thành chỉ tiêu giao quân ngay từ đầu năm, đảm bảo chất lượng, chỉ tiêu.

Tình hình an ninh trật tự trên địa bàn ổn định; theo dõi nắm chắc tình hình, đảm bảo an ninh, an toàn, góp phần tổ chức thành công các hoạt động kỷ niệm những ngày lễ và các sự kiện lớn của tỉnh. Chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện các giải pháp đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; đồng loạt ra quân tấn công trấn áp các loại tội phạm, điều tra xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, triệt xóa các tụ điểm phức tạp về tệ nạn xã hội, triệt phá nhiều đường dây tổ chức đánh bạc, ma túy, góp phần đảm bảo tốt tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh.

Về tai nạn giao thông, từ ngày 16/12/2018 đến ngày 15/9/2019, trên địa bàn tỉnh xảy ra 169 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 135 người, bị thương 93 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông đường bộ tăng 02 vụ nhưng giảm 06 người chết và giảm 13 người bị thương. Xảy ra 05 vụ tai nạn giao thông đường sắt, làm chết 04 người, bị thương 01 người.

Như vậy, qua 9 tháng đầu năm, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đạt được một số kết quả nhất định. Các hoạt động văn hóa, du lịch diễn ra sôi nổi, an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tăng so cùng kỳ. Số lượt khách tham qua, lưu trú tăng. Khả năng huy động vốn, tín dụng tăng trưởng tốt. Tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững, an sinh xã hội được đảm bảo

Tuy nhiên, tăng trưởng ngành công nghiệp có dấu hiệu chững lại trong quý III; thu ngân sách đạt tiến độ nhưng nguồn thu ở một số lĩnh vực quan trọng giảm dần, khó đạt dự toán đã giao từ đầu năm; trong đầu tư tỷ lệ giải ngân thấp; bệnh Dịch tả lợn Châu Phi vẫn diễn biến phức tạp. Vì vậy, để đạt cao nhất các chỉ tiêu kinh tế xã hội đã đề ra trong năm 2019, thời gian tới các ngành, địa phương cần bám sát kế hoạch, tập trung thực hiện tốt các giải pháp bổ sung đã đề ra tại Nghị quyết của HĐND tỉnh tại kỳ họp thứ 10, HĐND tỉnh khóa IX; tập trung tháp gỡ khó khăn, cải thiện môi trường đầu tư nhằm phát triển sản xuất, kinh doanh; khống chế dịch bệnh; thúc đẩy tiến độ thi công các công trình, thu hồi các nguồn tạm ứng, phấn đấu giải ngân 100% vốn đầu tư xây dựng cơ bản./.

Tác giả: Huỳnh Thị Yến Phi

Nguồn tin: Phòng Quy hoạch - Tổng hợp

[Trở về]

Các tin cũ hơn:

Thông tin - Thông báo

Liên Kết Web

BẢN QUYỀN THUỘC SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ QUẢNG NAM
Số 222/GP-BC do Cục báo chí ( Bộ văn hoá - thông tin ) cấp ngày 09/08/2006
Điện thoại:02353.810.394 Email:02353.810.396
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)

Tổng số lượt truy cập