default Red Green

Chi tiết tin

Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Quảng Nam 10 năm qua

Người đăng: Nguyễn Văn Đàn Ngày đăng: 14:08 | 05/11 Lượt xem: 118

Thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn vừa qua, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành, địa phương triển khai các nhiệm vụ trọng tâm về cơ cấu lại đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp thông qua các cơ chế, chính sách để phát huy thế mạnh của từng tiểu ngành, từng nhóm ngành hàng/ sản phẩm; thúc đẩy hợp tác, liên kết, tổ chức lại sản xuất; và ứng dụng tiến bộ KHCN trong các lĩnh vực, đến nay đã đạt được một số kết quả sau:

Tăng trưởng kinh tế nông nghiệp, nông thôn qua 10

Qua 10 năm qua thực hiện, giá trị GRDP nông lâm thủy sản tăng bình quân 2,59%/năm, giá trị GRDP nông lâm thủy sản năm 2019 (ước đạt 6.960 tỷ đồng) so với năm 2010 tăng 1.438 tỷ đồng và gấp 1,3 lần. Trong đó, giai đoạn 2016-2019 tăng bình quân 3,83% cao hơn mức tăng bình quân của giai đoạn 2010-2015 là 1,8%/năm. Mặc dù duy trì mức tăng trưởng hàng năm, tuy nhiên tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế giảm dần trong 10 năm qua, năm 2010 là 22,44% và 2019 là 9,55% do tốc dộ phát triển của ngành nông nghiệp thấp hơn nhiều so với công nghiệp và dịch vụ.

Ngành nông nghiệp tăng trưởng theo hướng bền vững và nâng cao giá trị sản phẩm; giá trị sản phẩm trồng trọt trên 1 ha canh tác năm 2019 ước đạt hơn 88 triệu đồng, tăng 24,33 triệu đồng/ha so với năm 2010; giá trị sản phẩm nuôi trồng thủy sản trên 1 ha diện tích NTTS năm 2019 ước đạt 380 triệu đồng, tăng 197 triệu đồng/ha so với năm 2010. Kết quả tăng trưởng kinh tế nông nghiệp cũng đã đáp ứng mục tiêu tiêu Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ[1] đề ra.

Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp

Giai đoạn 2010-2019, Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng bình quân 4,4%, năm 2019 đạt 13.896 tỷ đồng tăng gần 1,5 lần so với năm 2010. Trong đó lâm nghiệp có mức tăng bình quân cao nhất 12,1%/năm, tiếp đến làn thủy sản 5,1%/năm và nông nghiệp là 3,2%/năm.

Trong cơ cấu giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp, tỷ trọng nông nghiệp thuần vẫn duy trì ở mức cao (dao động từ 58% đến 67%) và đang có xu hướng giảm dần. Ngành thủy sản chiếm tỷ trọng từ 26% đến 30% và có xu hướng tăng dần qua các năm. Trong khi đó, ngành lâm nghiệp chiếm tỷ trọng khá nhỏ (dao động từ 5%-11%) và đang có xu hướng tăng mạnh trong giai đoạn này.

Nhìn chung, kinh tế nông nghiệp đã duy trì mức tăng trưởng hàng năm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực. Năm 2010, tỷ trọng nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản lần lượt là 67,95% - 5,33% - 26,73%, đến năm 2019, tỷ trong nông nghiệp giảm còn 59,89%, tỷ trọng lâm nghiệp tăng lên 10,47% và tỷ trọng thủy sản là 29,64%.

Một số kết quả cụ thể:

a. Đối với lĩnh vực nông nghiệp:

- Trồng trọt: Diện tích đã chuyển đổi từ đất lúa sang sản xuất rau màu các loại khoảng trên 4.400 ha, hầu hết các diện tích chuyển đổi đều có hiệu quả cao hơn so với sản xuất lúa. Sản xuất rau an toàn (RAT) theo hướng VietGAP, rau hữu cơ tăng khá về diện tích và sản lượng. Đầu ra của sản phẩm RAT tương đối ổn định, góp phần tăng giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích, một số mô hình sản xuất phát triển như Dầu phụng Đất Quảng ở Điện Quang - Điện Bàn, mô hình bưởi trụ ở Đại Bình - Nông Sơn... Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã hình thành hơn 140 cánh đồng lớn, với hơn 6.000 ha/năm (giống lúa, ngô, đậu xanh, lạc, ớt, dưa hấu...). Nhiều mô hình sản xuất hiệu quả được thực hiện theo hướng liên kết 4 nhà, từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, gắn sản xuất với thị trường, nâng cao năng suất, hiệu quả, thu nhập cho nông dân, các địa phương đã thực hiện liên kết sản xuất giống cây trồng với các công ty, đơn vị mang lại hiệu quả cao, cho thu nhập cao hơn sản xuất bình thường. Đến năm 2018, diện tích tích tụ trên địa bàn tỉnh đã tăng lên 121,4ha. Chủng loại cây trồng sản xuất khá phong phú, tập trung chủ yếu vào các loại cây mang tính đặc thù có giá trị như: Sản xuất giống lúa, lạc, hoa cây cảnh, cây ăn quả, rau an toàn… Thông qua việc tích tụ, giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích tăng lên rõ rệt, đặc biệt đa dạng hóa mùa vụ, sản phẩm cây trồng, khai thác tốt nguồn lực đất đai, lao động tại chỗ, tạo việc làm ổn định, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn.

- Chăn nuôi: Ngành chăn nuôi có sự chuyển biến theo hướng chăn nuôi nhỏ lẻ giảm dần, chăn nuôi theo hình thức tập trung phát triển. Ngoài ra, hình thức liên kết sản xuất trong chăn nuôi cũng phát triển, người chăn nuôi chủ động được một số khâu đầu vào, giảm chi phí đầu tư ban đầu, năng suất, sản lượng và giá bán sản phẩm ổn định; trình độ quản lý, kỹ thuật được nâng lên, chủ động trong tiêu thụ sản phẩm. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã có khoảng 120 trang trại, phát triển chủ yếu 2 hình thức là chăn nuôi gia công cho các doanh nghiệp và liên kết hình thành Hợp tác xã, tổ hợp tác, hội chăn nuôi.

Giai đoạn 2010- 2019, GTSX nông nghiệp duy trì mức tăng năm sau cao hơn năm trước với mức 3,2%/năm, nhưng tốc độ tăng thấp hơn so với lĩnh vực lâm nghiệp và thủy sản. Năm 2019 GTSX nông nghiệp ước đạt 8.198 tỷ đồng, tăng 1.891 tỷ đồng so với với năm 2010.

b. Đối với lĩnh vực lâm nghiệp:

Trong lâm nghiệp, đã tập trung đẩy mạnh giao đất, cho thuê đất, thuê môi trường rừng, giao khoán rừng cho tổ chức và cá nhân quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi, trồng mới tái tạo vốn rừng, phát triển dược liệu, lâm sản ngoài gỗ, ổn định các khu tái định cư, xây dựng kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng...; đồng thời, đã tiến hành đo đạc, chỉnh lý ranh giới lâm phận, lập thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 11 khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh. Hiện nay, đang rà soát phương án giao khoán rừng cho cộng đồng, hộ gia đình, cá nhân đối với những diện tích rừng tự nhiên do UBND xã quản lý theo Nghị định số 75/NĐ-CP. Giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng đều qua các năm và có mức tăng bình quân khoảng 12,1%/năm, cao hơn so với lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản, năm 2019 GTSX lâm nghiệp ước đạt 1.433 tỷ đồng, tăng gần 2,9 lần so năm 2010.

c. Đối với lĩnh vực thủy sản:

Giai đoạn 2010 -2019, Sản lượng thủy sản tăng đều qua các năm, đạt 5,23%/năm, sản lượng năm 2019 tăng hơn 1,6 lần so với năm 2010. Số lượng tàu cá xa bờ trong các năm gần đây gia tăng đánh kể, cơ cấu nghề có sự dịch chuyển theo đúng định hướng, các nghề khai thác xa bờ như: nghề lưới vây, câu mực, chụp mực tăng mạnh, các nghề mành, trủ, vó ven bờ có xu hướng giảm. Đánh bắt hải sản phát triển theo hướng giảm số lượng tàu cá có công suất nhỏ, đánh bắt ven bờ, nâng cao năng lực khai thác và hiệu quả đánh bắt xa bờ. Tổng số tàu xa bờ của tỉnh (≥90cv) ước đến cuối năm 2018 là 806 chiếc, tăng khoảng 500 chiếc so với cuối năm 2010. Giá trị sản xuất thủy sản tăng bình quân 5,1%/năm, năm 2019 ước đạt 4.057 tỷ đồng, tăng 1,64 lần so với năm 2010.

Đạt được những kết quả trên đây là nhờ sự chỉ đạo tập trung của tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh trong giai đoạn vừa qua đã tổ chức thực hiện hiệu quả của Trung ương và ban hành nhiều cơ chế chính sách riêng của tỉnh phù hợp cho quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Các chính sách của tỉnh đã tập trung định hướng cho sản xuất nông nghiệp theo hướng tận dụng và khai thác tối đa các lợi thế tự nhiên về rừng, đất rừng, mặt nước sông, hồ, biển, hỗ trợ phát triển sản xuất để phát triển mạnh ngành lâm nghiệp và thủy sản; đối với lĩnh vực thuần nông, tập trung công tác chuyển đổi cây trồng, vật nuôi phù hợp với các vùng miền, ưu tiên phát triển chăn nuôi tập trung nhằm nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm;

 Đặc biệt, số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn ngày càng gia tăng, trước năm 2013 số lượng  doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn rất hạn chế, hiện nay đã có trên 400 doanh nghiệp doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này. Liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đã được thúc đẩy và hỗ trợ phát triển   Chương trình OCOP được triển khai trong thời gian qua, bước đầu đã mang lại những kết quả khả quan, đã tạo ra các sản phẩm hàng hóa từng bước đáp ứng nhu cầu thị trường, khẳng định hướng đi phù hợp của ngành nông nghiệp, từng bước đáp ứng yêu cầu và mục tiêu xây dựng nông thôn mới của tỉnh.

Một số hạn chế:

- Tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế các lĩnh vực NN còn chậm;

- Quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, tình trạng dịch bệnh nguy hiểm trên cây trồng, vật nuôi vẫn tồn tại làm ảnh hưởng lớn đến giá trị gia tăng sản phẩm;

- Chưa hình thành được các vùng nguyên liệu tập trung phục vụ sản xuất hàng hóa;

- Tổ chức sản xuất chưa chặt chẽ, thiếu sự liên kết giữa các khâu nuôi trồng, chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Khâu chế biến sâu chưa phát triển mạnh do đó hiệu quả kinh tế chưa cao;

- Phát triển liên kết với doanh nghiệp sản xuất theo chuỗi giá trị còn nhiều hạn chế, chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư, chưa có doanh nghiệp đầu tàu trong lĩnh vực nông nghiệp;

- Hệ thống hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp tuy được quan tâm đầu tư, nhưng chưa đồng bộ, hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao chưa được quan tâm đầu tư.

Một số giải pháp trong thời gian tới:

1- Tiếp tục tổ chức thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp nông thôn của Trung ương và tỉnh, đặc biệt là các chính sách về khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn theo NĐ 57/2018/NĐ-CP và Quyết định 331/QĐ-UBND; tín dụng nông nghiệp – nông thôn theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP và Nghị định 116/2018/NĐ-CP, ….

Đồng thời rà soát ban hành một số quy định, chính sách mới nhằm thúc đẩy tái cơ cấu nông nghiệp như: chính sách tích tụ, tập trung đất đai, tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất thúc đẩy hình thành các vùng sản xuất chuyên canh tập trung.

2- Điều chỉnh cơ cấu lại đầu tư và tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm theo vùng miền núi, đồng bằng, đồng bằng ven biển, các giải pháp ưu tiên đẩy nhanh tăng trưởng của các ngành có thế mạnh đã được xác định là thuỷ sản và lâm nghiệp do còn nhiều tiềm năng phát triển; đối với nông nghiệp, đẩy mạnh chăn nuôi, nhóm các cây trồng cạn có lợi thế hơn đối với cây lúa. Thực hiện có hiệu quả việc lồng ghép các nguồn vốn từ các chương trình, dự án khác trên địa bàn với nguồn vốn thuộc Chương trình nông thôn mới để phát huy hiệu quả đầu tư.

3- Khuyến khích phát triển doanh nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản nhằm nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm, tạo nhiều việc làm góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp - nông thôn.

4-Tăng cường hợp tác, liên kết chuỗi giá trị trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, hình thành các mô hình liên kết chặt chẽ, bình đẳng tin cậy giữa nông dân, HTX và doanh nghiệp. Đẩy mạnh hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo trong  lĩnh vực nông nghiệp; tập trung vào các mô hình kinh doanh các ngành hàng, sản phẩm chủ lực của tỉnh, góp phần định hướng sản xuất và xây dựng thương hiệu sản phẩm, lồng ghép thực hiện hiệu quả chương trình OCOP.

5- Tăng cường năng lực dự báo cung – cầu nông sản, có giải pháp mạnh để thúc đẩy tiêu thụ nông sản, bảo đảm kết nối giữa sản xuất và thị trường tiêu thụ; tăng cường thực hiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm, ngăn chặn thực phẩm kém chất lượng.

6- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, tạo thuận lợi trong phát triển sản xuất nông nghiệp, nhất là trong lĩnh vực đất đai, tín dụng../

Tác giả: Nguyễn Thị Hòa Bình

Nguồn tin: Phòng Kinh tế Ngành

[Trở về]

Các tin cũ hơn:

Thông tin - Thông báo

Liên Kết Web

BẢN QUYỀN THUỘC SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ QUẢNG NAM
Số 222/GP-BC do Cục báo chí ( Bộ văn hoá - thông tin ) cấp ngày 09/08/2006
Điện thoại:02353.810.394 Email:02353.810.396
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)

Tổng số lượt truy cập