default Red Green

Chi tiết tin

Đánh giá về chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh

Người đăng: QT Hệ thống Ngày đăng: 18:08 | 29/05 Lượt xem: 1933

Ngày 26/02/2009 Sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Nam phối hợp với Ban điều phối chương trình Việt - Đức về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng với VCCI tổ chức Hội thảo đánh giá về chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh giai đoạn 2005-2008.

Đồng chí Lê Minh Ánh - Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam đến dự chỉ đạo Hội nghị và  phát biểu ý kiến. 

Các tham luận tập trung vào phân tích chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh 2008 khu vực duyên hải Miền Trung và của Quảng Nam; thực trạng cải thiện môi trường kinh doanh của Quảng Nam; Thực trạng và phản ánh môi trường cạnh tranh qua các chỉ số thành phần; Lập kế hoạch năm 2009 nhằm nâng cao chỉ số cạnh tranh...

Dưới đây là nộ dung báo cáo về thực trạng môi trường cạnh tranh qua các chỉ số thành phần:

DIỄN BIẾN CHỈ SỐ CẠNH TRANH CỦA TỈNH QUA CÁC NÃM (2005 – 2008)

CHỈ SỐ THÀNH PHẦN

2005
2006
2007
2008
GHI CHÚ
 
 
 
 
 
 Chi phí gia nhập thị trường
6,23
    7,76
      8,76
      8,99
TĂNG
Chi phí không chính thức
5,04
    5,27
      6,13
       7,05
TĂNG
Tiếp cận đất đai
6,22
    5,55
       5,90
       6,41
TĂNG            CHẬM
Tính minh bạch và trách nhiệm
4,65
    4,44
       6,63
       6,75
TĂNG CHẬM
Đào tạo lao động
N/A
    5,70
       5,02
       4,85
GIẢM 
Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo
7,01
    6,61
       6,89
       7,14
 TĂNG  
Chi phí thời gian và việc thực hiện các quy định của nhà nước
5,23
    4,32
       6,26
       5,51
GIẢM
Thiết chế pháp lý
N/A
    6,31
       5,08
       5,45
GIẢM
Ưu đãi DNNN
5,92
    6,96
       6,73
       8,09
TĂNG
Chính sách phát triển kinh tế tư nhân
7,03
    5,26
       6,67
       3,76
GIẢM 

XẾP HẠNG CHỈ SỐ CẠNH TRANH CỦA CÁC TỈNH MiỀN TRUNG NÃM 2008

CHỈ SỐ THÀNH PHẦN

TT-Huế
TP. Đà Nẵng
Quảng Nam
Quảng Ngãi
GHI CHÚ
         
Tiếp cận đất đai
63
58
43
56
 
Đào tạo lao động
6
1
22
52
 
Chi phí thời gian và việc thực hiện các quy định của nhà nước
32
14
27
8
 
Thiết chế pháp lý
10
2
15
42
 
Chính sách phát triển kinh tế tư nhân
9
2
21
43
 

Trong 10 chỉ số thành phần trên, có 06 chỉ số tăng, có 04 chỉ số giảm. 
     Trong số tăng, có 03 chỉ số tăng chậm. 
     Trong số giảm, có 02 chỉ sô giảm mạnh
1/ Chi phí gia nhập thị trường: Trong những năm qua, thủ tục hành chính về ĐKKD và cấp phép đầu tư được cải thiện. Sở KH&ĐT, Công An tỉnh và Cục thuế đã xây dựng quy chế liên thông và Quy chế phối hợp. 
Số ngày và số lần đi lại của doanh nghiệp để hoàn thành các thủ tục ĐKKD liên tục được rút ngắn (từ 15 ngày xuống còn 5 ngày làm việc). Hiện nay, doanh nghiệp chỉ đến Sở KH-ĐT 02 lần. Lần thứ 02, DN nhận đủ hồ sơ đăng ký thành lập DN và con dấu, Giấy chứng nhận mẫu dấu.
Việc cải cách này được DN ghi nhận tốt và đã tạo nhiều thuận lợi cho DN. 
2/ Chi phí không chính thức: Những chi phí phát sinh thêm so với dự toán chi phí cho một công việc của DN. 
Chỉ số này phản ánh đúng tình hình cải cách thủ tục hành chính của tỉnh trong những năm qua. Các cơ quan liên quan đến hoạt động kinh doanh của DN đều có trang báo điện tử đưa thông tin và hướng dẫn, đặc biệt là Cổng thông tin Doanh nghiệp và Đầu tư được xây dựng và đưa vào hoạt động năm 2007, đến nay đã có gần 45.000 lượt người truy cập. Các cơ quan nhà nước thông báo công khai các thủ tục tại cơ quan mình. Doanh nghiệp dự trù được khi phí phải bỏ ra cho một công việc. Năm 2007 và 2008, chỉ số này tăng mạnh. Đánh giá sự tiến bộ của cơ quan nhà nước trong việc cải cách thủ tục hành chính và hỗ trợ DN.
3/ Ưu đãi DNNN: Chỉ số thành phần này phản ánh công tác cổ phần hóa DNNN của tỉnh được đẩy mạnh trong những năm qua. Từ số lượng 67 DNNN của tỉnh đến nay chỉ còn 20 DN. Số DN còn lại đang thực hiện các thủ tục chuyển đổi. Hầu hết các DNNN chuyển đổi hoặc cổ phần hóa đều hoạt động có hiệu quả. 
03 chỉ số trên tăng, mang tính bền vững qua các năm và phản ánh đúng thực trạng tiến bộ trong việc cải các hành chính của tỉnh. 
1/ Tính năng động của lãnh đạo: Chỉ số này có tăng qua các năm, nhưng ở mức tăng chậm. Trong thực tế những năm qua, các cơ quan tham mưu của tỉnh chưa tham mưu được nhiều những quy chế thu hút đầu tư, cải cách việc giải quyết các thủ tục liên quan đến đầu tư cho DN trên cơ sở sáng tạo và linh động mà chỉ thực hiện các quy định của Trung ương.
2/ Tính minh bạch và trách nhiệm : Chỉ số này có tăng, nhưng tăng chậm. Hiện nay, các cơ quan nhà nước và một số huyện của tỉnh có trang báo điện tử (website), UBND tỉnh có website của tỉnh và Cổng thông tin Doanh nghiệp và Đầu tư, 04 địa phương đang cập nhận thông tin vào Cổng thông tin DN & ĐT, đã tạo những điều kiện nhất định cho DN tiếp cận thông tin. DN vẫn chưa có sự bình đẳng trong việc tiếp nhận thông tin. Đáng qua tâm ở đây là việc 38,33% DN cho rằng đàm phán số thuế phải trả với cán bộ thuế ở địa phương là một phần quan trọng của công việc kinh doanh. 
3/ Tiếp cận đất đai: Chỉ số này có tăng, nhưng tăng rất chậm. Theo VNCI thì đây là chỉ số yếu cần sự quan tâm của tỉnh Quảng Nam. Thực tế diễn ra trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua còn nhiều điểm yếu:
- DN phải mất rất nhiều thời gian, đi lại nhiều lần, phải gặp nhiều cấp, nhiều cán bộ nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện và ngay cả cấp xã cho việc thỏa thuận địa điểm.
- Công tác đền bù giải phóng mặt bằng không được đẩy mạnh, Cơ quan GPMB không thực hiện đúng thời gian cam kết trong hợp đồng với chủ đầu tư, đặc biệt là các dự án ven biển.
- Việc xác định giá và luôn thay đổi giá thuê đất làm cho DN khó khăn trong công tác chuẩn bị đầu tư.
- Tỉnh chưa có Quy chế về xác định tiền thuê đất cho các loại hình dự án, quy hoạch chỉ cho phép xây dựng 20%, nhưng khi tính tiền thuê đất lại tính trên tổng diện tích dự án, giải phóng mặt bằng chưa xong đã nhận được giấy báo nộp tiền thuê đất. 
4/ Chi phí thời gian và việc thực hiện các quy định của nhà nước: Đây là chỉ số phản ánh của DN về công tác thanh tra, kiểm tra và việc hoàn thành các thủ tục theo quy định. 
Chỉ số này chưa được cải thiện qua các năm, phản ánh một phần sự đùn đẩy, sợ trách nhiệm của các cơ quan, bệnh giấy tờ còn nhiều. Thực tế, để thực hiện hoàn thành thủ tục đầu tư một dự án, DN phải tiếp cận với trên 20 cơ quan từ địa phương đến tỉnh. Để có thỏa thuận địa điểm cho dự án sản xuất, có không ít DN phải mất 1/2 năm mà vẫn chưa hoàn thành; Để có mặt bằng sạch, có DN phải chờ đã hơn 03 năm.
5/ Đào tạo lao động: Chỉ số này vẫn chưa được cải thiện qua các năm và ngày càng giảm. 
Nhiều DN cho rằng các cơ sở đào tạo cho ra những sản phẩm không phù hợp, nếu phù hợp thì chất lượng yếu (chỉ 40% DN bằng lòng với chất lượng đào tạo do cơ quan của tỉnh cung cấp)Hầu hết, nhân lực phục vụ cho các dự án và doanh nghiệp lớn đều đến từ Đà Nẵng, TP HCM và các tỉnh khác. 
6/ Thiết chế pháp lý: chỉ số này không được cải thiện trong những năm qua. Thực trạng, nhiều vụ kiện tụng về việc tranh chấp giữa các doanh nghiệp không được giải quyết dứt điểm tại tòa án địa phương mà thường doanh nghiệp phải đệ trình lên tòa thượng thẩm
Về Phát triển kinh tế tư nhân: Chỉ số này không được cải thiện và giảm mạnh trong năm 2008. Tỷ lệ doanh nghiệp hài lòng với các dịch vụ cung cấp thông tin thị trường và dịch vụ công, hỗ trợ tìm kiếm đối tác từ cơ quan của tỉnh thấp (bình quân 25%). Thực trạng cho thấy, công tác xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại, triển lãm sản phẩm hàng hóa,... Và việc xây dựng hoàn chỉnh các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong những năm qua không được đẩy mạnh. Nhiều địa phương đăng ký xây dựng cụm công nghiệp, nhưng nhiều cụm công nghiệp không có hoặc có quá ít nhà đầu tư. Nhiều Cụm công nghiệp, KCN được quy hoạch nhưng chưa tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng nên chưa thu hút được các nhà đầu tư. 
DOANH NGHIỆP KIẾN NGHỊ
Cần phải làm tốt công tác lập quy hoạch và quản lý quy hoạch. Các quy hoạch về đất đai, xây dựng phải được công khai. Trong việc giải phóng mặt bằng cần lưu ý đến khu tái định cư trước.
Đề nghị xây dựng trên trang web của UBND tỉnh hoặc của Sở KHĐT quy trình, thủ tục đầu tư từ khi thành lập pháp nhân đến khi đưa dự án vào hoạt động; cung cấp các thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. 
Cần có cơ quan đầu mối hướng dẫn cho doanh nghiệp, cần có dịch vụ công làm giúp cho doanh nghiệp các thủ tục với phí dịch vụ công khai rõ ràng 
Khi nhận hồ sơ của doanh nghiệp thì các cơ quan phải có phiếu biên nhận và trả lời một lần thôi
Tỉnh cần có cơ quan theo dõi việc thực hiện thủ tục đầu tư. Nếu có vấn đề tiêu cực thì doanh nghiệp sẽ phản ánh đến cơ quan này. Cơ quan này nên là Sở Nội vụ.
Cần hướng dẫn cho doanh nghiệp các thủ tục hành chính cả trước và sau khi cấp Giấy phép. Lãnh đạo tỉnh và các ngành nên quan tâm đến thăm doanh nghiệp
Cần quy định sau bao nhiêu ngày nộp hồ sơ mà không được giải quyết thì doanh nghiệp có thể gởi công văn đề nghị cơ quan đầu mối hoặc UBND tỉnh can thiệp.
Các cán bộ không thực hiện đúng các quy định thì phải có chế tài xử lý, kèm theo đó là trách nhiệm của người đứng đầu
Việc giải quyết các thủ tục ở các huyện có sự khác nhau. Cần tăng cường quan hệ làm việc giữa cấp tỉnh và cấp huyện. 
Tỉnh cần phải thực hiện những gì đã cam kết với doanh nghiệp. Cán bộ phải thân thiện với doanh nghiệp. Xây dựng chính quyền thân thiện với doanh nghiệp. 
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
1.VỀ QUI HOẠCH
Tập trung quy hoạch đất đai và chuẩn bị mặt bằng sạch cho các dự án đầu tư. 
Ưu tiên xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu cho các khu, cụm công nghiệp được quy hoạch.
2. VỀ THỦ TỤC ĐẦU TƯ
Công khai các thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư của các Sở ngành và các địa phương trên website của tỉnh Quảng Nam. 
Các Sở ngành và địa phương cử cán bộ trực tiếp hướng dẫn và xử lý hồ sơ cho doanh nghiệp (tên, số điện thoại liên lạc, địa chỉ) 
3.VỀ ĐỀN BÙ GIẢI TỎA
Các địa phương quy hoạch các khu tái định cư để bố trí cho người dân trong diện bị giải tỏa trắng. 
Tỉnh ưu tiên bố trí kinh phí cho các địa phương xây dựng công trình hạ tầng của 1 số khu tái định cư ưu tiên
4.VỀ HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP
Thành lập Trung tâm xúc tiến đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp để hỗ trợ cho nhà đầu tư. 
Biên soạn và phát hành cuốn sách hướng dẫn đầu tư Công bố số điện thoại đường dây nóng, địa chỉ hộp thư điện tử  
5.VỀ ĐÀO TẠO LAO ĐỘNG
Tập trung đầu tư xây dựng các trường đào tạo nghề chất lượng cao. 
Áp dụng loại hình đào tạo theo yêu cầu của doanh nghiệp.

Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực dạy nghề chất lượng cao (hỗ trợ tín dụng, đất đai, miễn giảm thuế,...).

                                   Nguyễn Hưng

Tác giả: Quản trị

[Trở về]

Các tin cũ hơn:

Thông tin - Thông báo

Liên Kết Web

BẢN QUYỀN THUỘC SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ QUẢNG NAM
Số 222/GP-BC do Cục báo chí ( Bộ văn hoá - thông tin ) cấp ngày 09/08/2006
Điện thoại:02353.810.394 Email:02353.810.396
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)

Tổng số lượt truy cập